Người Công giáo giữa hai thái cực chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản" ?**

4/11/2015 06:22:00 AM |

TC: Một bài viết nói về vai trò của người công giáo dưới nhãn quan kinh tế, học thuyết xã hội Công Giáo và đức tin của một bạn trẻ. Xin giới thiệu đến tất cả những ai quan tâm, đặc biệt những ai thắc mắc về vai trò của người Công Giáo giữa lằn ranh chính trị Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa.
 ---------------------------------------------------------------------
 

Có bạn hỏi thế này: "Đâu là vị trí của người Công giáo giữa hai thái cực chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản" ?

Theo mình thì giáo hội Công giáo luôn nhấn mạnh quyền tư hữu tài sản nhưng cần phải có luân lý trong việc sử dụng tài sản đó. Bạn có quyền sở hữu cá nhân súng đạn nhưng không có nghĩa là bạn có quyền sử dụng súng để bắn vào trẻ em, người nằm chức vụ có quyền pháp lí cho vị trí của anh nhưng anh không có quyền sử dụng vị trí đó để làm phương hại đến tài sản công (Theo thánh Augustino và Tomas Aquinas là : Common Good)

Chủ nghĩa tư bản nhấn mạnh quyền tư hữu và bỏ quên đi việc sử dụng quyền định đoạt tài sản cho mục đích xã hội. Chủ nghĩa cộng sản nhấn mạnh vào việc sử dụng cho mục đích xã hội nhưng loại bỏ quyền tư hữu. Người theo chủ nghĩa Công giáo : Nhấn mạnh quyền tư hữu đặt dưới điều kiện sử dụng cho "common good". (cần phần biệt common goods với public goods (theo kinh tế công) và collective goods (theo li thuyết tản quyền )). 

Chủ nghĩa tư bản nói "Cái này của tôi, chỉ sử dụng cho tôi"

Chủ nghĩa cộng sản nói "Cái này của chúng ta, sử dụng cho chúng ta. Nhưng tôi là nhà độc tài tôi quyết định anh có bao nhiêu"


Người công giáo nói : "Cái này của tôi, tôi sử dụng cho chúng ta"


Hay nói khác đi :


Chủ nghĩa tư bản nhấn mạnh những cá nhân tư hữu nuốt chửng mất mục đích xã hội


Chủ nghĩa cộng sản nhấn mạnh mục đích xã hội nuốt chửng cá nhân tư hữu


Người Công giáo nhấn mạnh cá nhân tư hữu, sống vì mục đích xã hội


Phúc âm có hai câu chuyện sau đã phản ánh về CNTB và CNXH như sau để cho bạn thấy rõ hơn giữa : CNTB, CNXH và Người Công giáo

Khi Chúa Jesu đi vào vùng đất có tên là Gerasen* (tiếng việt là gì quên mất tiêu) nơi có một chàng thanh niên bị quỉ ám, anh sống trong hang động bị xiềng xích và kêu gào ngày đêm, anh lấy các viên đá sắc bến để cắt da thịt mình. 

Chúa Jesu đi qua đến gần anh là ra lệnh cho Satan "Satan, hãy ra khỏi người này", ngay sau đó bầy quỉ trong anh bị trục xuất và nhập vào đàn gia súc khoảng 2000 con, một cách hùng dữ lao xuống vực thẳm. 


Ngay sau đó, người thanh niên niên ăn mặc chỉnh tề, tỉnh táo ngồi bên Jesu. Những người chủ của đàn gia súc Gerasen chẳng hề quan tâm đến anh, cái họ quan tâm là đàn gia súc, vì vậy họ yêu cầu Ngài "Xin ông hãy đi khỏi vùng đất này". Bạn có thể diễn giải câu chuyện này trong ngôn ngữ hiện đại như như sau "Nếu ông đến đây để rao giàng và cứu rỗi phẩm giá con người, và điều đó gây cho chúng tôi sự thiệt hại lợi nhuận. Nếu ông cho rằng việc khôi phục con người trở về giá trị nhân bản thì quan trọng hơn là tài sản, thì xin ông hãy đi cho". Người Garasen quan tâm đến bầy gia súc hơn chàng thanh niên kia, Họ quan tâm đến sự giàu có vật chất hơn là nhân phẩm con người. Đó là biểu tượng cho tinh thần của chủ nghĩa tư bản đặt vật chất cao trọng hơn nhân quyền.


Câu chuyện thứ 2 của Phúc âm mô tả CNCS, không giống như câu chuyện phía trên nơi mà nhà tư bản làm nô lệ cho lợi nhận và ích kỉ cá nhân (selfishness chứ ko là là self-interest). CNCS là sự ích kỉ của chủ nghĩa tập thể. Câu chuyện phía trên là minh họa cho con người kém hơn lợi nhuận. Còn câu chuyện sau đây là minh họa cho con người bị đặt dưới tập thể và nhà nước.

không lâu trước khi Đức Jesu bị đóng đinh trên thập giá. Trước tòa Thượng Tế Caipha, « ông đã nói với các thầy Pharisieu rằng Chúa nhân lành của chúng ta nên bị giết hơn là nhà nước, quốc gia hay tập thể bị thách thức » (Gioan 11 :22). Không có bất cứ bằng chứng nào để kết án tội lỗi của Ngài hay bất cứ sự vi phạm luân lý nào mà Ngài gây ra cho người xung quanh. Như thế, quốc gia và tập thể được bảo toàn để tiêu diệt nhân cách con người nhằm bảo toàn lợi ích tập thể. Trong suy nghĩ của Caipha, chẳng có bất cứ điều gì được xem là con người có những quyền không thể nhân nhượng mà không có ai có thể tước đoạt mất, ngay cả đó là nhà nước. Caipha chỉ quan tâm đến một thực tế rằng nhân phẩm con người chẳng đáng giá gì so với quyền lực chính trị hay quyền lực của đảng phái hay tập thể đông đúc những người Do Thái . Bạn có thể diễn giải trong ngôn ngữ hiện đại : 

« Hãy để cho đạo đức chết đi và đừng để cho quyền lực chính trị bị diệt vong. Bất cứ ai đòi hỏi quyền tự do tư tưởng hay quyền rao giảng tôn giáo hay thờ phượng Chúa cao hơn là thờ phượng nhà nước, hay bất cứ ai tuyên bố anh ta có quyền độc lập với đảng chính trị. Hãy thanh trừng ! Nếu bất cứ giáo hội nào rao giảng rằng con người có những quyền mà anh ta sẵn sàng trả những gì thuộc về César cho César, trả những gì thuộc về Thiên Chúa cho Thiên Chúa. Hãy tiêu diệt người đó đó, Bởi vì không có Thiên Chúa nên tất cả đều thuộc về César »

Bởi chối bỏ rằng con người chẳng có quyền gì độc lập với nhà nước, người ta đã tạo ra những còn người hoàn toàn phụ thuộc vào nhà nước. Cũng như những người Gerasen hoàn toàn phụ thuộc vào lợi nhuận. 

Cả Quyền lực kinh kinh tế, lẫn quyền lực chính trị đều treo Đức Kitô lên thập giá. Quyền lực kinh tế ích kỉ được tìm thấy nơi những người Gerasen và quyền lực chính trị ích kỷ nơi Thượng tế Caiphas.
Còn gì nữa, trong những giây phút trước khi trút hơi thở cuối cùng, họ kêu gọi Ngài hãy xuống khỏi thập giá bằng cách nhạo báng Ngài trước sự chinh phục của Ngài trước quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị. Ngài đã từ chối. Tại sao ? Nếu Chúa Jesu dùng Quyền lực để loại bỏ quyền lực, thì Ngài đã lấy mất tự do của họ. Ngài không muốn lòng sùng kính khúm núm của những kẻ nô lệ phụ thuộc César, mà Ngài muốn tình yêu trong Ân sủng có nguồn gốc Tự do bởi từ chối sử dụng QUYỀN LỰC chống lại quyền lực, Ngài giữ cho linh hồn Ngài Tự do và thân xác tự do, chính vì thế mà Ngài tự do lựa chọn nơi trú ngụ cho Ngài: "Con xin phó linh hồn trong tay Cha". Bởi giữ cho thân xác hay nói cách khác là tài sản của Ngài được tự do mà Ngài mới có gì đó trao lại cho chúng ta.

Đó là Tuyên Ngôn độc lập đầu tiên cũng là Tuyên Ngôn độc lập tâm linh cho chúng ta. Những người con Chúa cần ghi nhớ để giữ cho tâm hồn, linh hồn của mình độc lập để rồi ta "Trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa", Không trả cho César những gì thuộc về Thiên Chúa. 

Theo khát vọng của tinh thần "Tuyên ngôn độc lập thứ nhất" mà "Tuyên ngôn độc lập thứ hai" được viết bằng văn bản theo ý nghĩa chính trị đó là "Tuyên ngôn độc lập khỏi Nhà nước". Phần hai của "Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ đồng thời cũng là "Tuyên ngôn phụ thuộc" vào Thiên Chúa (theo Fulton Sheen) . Tuyên ngôn độc lập thứ 3 mang tính cách kinh tế nới mà những người lao động có thể tự đứng trên đôi chân của mình để gọi "cái này thuộc về tôi".

Học thuyết xã hội Công giáo : Không ít người Công giáo sai lầm nghiêm trọng khi diễn giải đồng hóa Phúc âm và tinh thần "vô sản" của CNCS.

Chúa Jesu từng dạy "Ai có 2 áo hay chia cho người không có, ai có đồ ăn cũng làm như vậy". Ngài đòi hỏi chúng ta lòng tự nguyện, Ngài không nói "hãy làm luật, để lấy 1 cái áo của người có 2 cái để đưa cho người không có". Ngài cũng không kêu gọi "dùng bạo lực cướp của người có 2 áo"

Ngài kêu gọi người thanh niên giàu có đạo đức "giữ giới răn từ nhỏ" rằng về "bán hết của cải chia cho người nghèo" và theo Ngài, nhưng Ngài không hề cưỡng bức tài sản của anh, anh cũng hoàn toàn tự do lựa chọn "cúi đầu bỏ đi". Ngài sinh ra trong nghèo khó, nhưng không cưỡng bức người giàu có phải cho Ngài cái nôi bởi vì Ngài nằm trong máng cỏ; Ngài không cưỡng bức người có nhà cửa phải chia nhà cửa bởi vì Ngài không có một mái nhà; Ngài không cưỡng bức chúng ta phải chết trên thập giá vì ngài bị đóng đinh trên thập giá. Ngài không cưỡng bức chia cách vợ chồng, con cái bởi vì ngài không có một tổ ấm. Ngài không buộc chúng ta phải ngủ dưới trời sao bởi ngài không có đến một mái hiên. Ngài chỉ hỏi nhẹ nhàng: "Con có nghĩ rằng con có thể uống chén đắng này cho thầy không ?". 

Hàng trăm ngàn tổ chức từ thiện của CG vẫn đang làm những điều này, kêu gọi lòng từ thiện tự nguyện để phân phối lại Tài sản tư hữu. Biết bao nhiêu Bệnh viện, trường học, Hệ thống đại học công giáo khắp thế giới đều nhằm mục đích này

-----------------------
*  Gerasen phiêm âm qua tiếng Việt là Ghê-ra-sa theo bản dịch của nhóm Phiên dịch CGKPV, ấn bản Kinh Thánh Trọn Bộ 2011. Xc. Mc 5,1-20, Kinh Thánh Tân Ước, nhóm Phiên dịch CGKPV, 2008, Nxb Đà Nẵng, trang 207-208 (ghi chú của TC)

** Tựa  đề do TC đặt. 
 
Dẫn lại theo Thanhcao's Blog
Xem thêm…

CHUỖI HẠT MÂN CÔI MẤT CÂY THÁNH GIÁ

4/09/2015 06:14:00 AM |

Sương Quỳnh: Tôi viết bài này để bày tỏ lòng tri ân đến Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Linh mục Giuse Đặng Chí San là người đã soi sáng cho tôi con đường đến với Thiên Chúa.
Xin cảm tạ các cha, các thầy DCCT Sài Gòn đã nâng đỡ tinh thần cho chúng tôi và cảm ơn thầy JosephVũ Văn Được đã dẫn dắt chúng tôi.


CHUỖI HẠT MÂN CÔI MẤT CÂY THÁNH GIÁ

Tôi đi thăm cha cùng chị, cha lắng nghe mọi lời tâm sự. Nghe chị kể về cuộc đời chị cha ứa nước mắt. Nhìn cha khóc tôi vừa ngỡ ngàng vừa bối rối, bởi con người đó trong mắt tôi kiên cường lắm, cứng cỏi lắm. Trong mọi sự việc cha thật sáng suốt và luôn khuyên tôi những lời khuyên rất chí tình, cha khuyên tôi đừng bám chấp điều gì, hãy yêu thương và thứ tha. Tôi là người cũng mau nước mắt, nhưng nhìn cha khóc tự nhiên tôi lại thấy trong tâm “mỉm cười”, tôi vui vì tôi đã không lầm khi xin cha làm cha đỡ đầu cho tôi, tôi vui vì hiểu cha hơn. Tôi hiểu chỉ khi Cha thấu hiểu nỗi đau của nhân thế, chia sẻ và yêu thương bằng cả tâm hồn mình thì Cha mới có thể rao giảng Tin Mừng bằng cả sự tôn kính và yêu thương được. Chỉ khi sự yêu thương và thứ tha thực sự ngự trong tâm hồn con người thì sự tuyên xưng Đức Tin mới tinh tuyền và mạnh mẽ. Nước mắt của Cha đó chính là Tinh Thần Kito, đó là sự yêu thương, cảm thông , chia sẻ và đó cũng chính là ý Chúa. Đạo Kyto chính là đạo của YÊU THƯƠNG.

Cha kể những câu chuyện về những người bị bệnh si- đa tại bệnh viện Nhân Ái. Họ tuy mắc căn bệnh hiểm nghèo và đối diện trước cái chết báo trước, nhưng họ có Đức Tin tuyệt đối vào Chúa. Do đó, dù bệnh tật, dù thể xác lở loét, dù đớn đau tận cùng, nhưng khi giây phút lia cõi trần gian này hầu như đều ra đi thật thanh thản, thanh thản đến độ ngạc nhiên, đến độ kẻ đang sống sờ sờ cũng phải cảm thấy ghanh tị. Cha kể: có một cậu, dù nằm trên giường bệnh nhưng mặt vẫn cười tươi roi rói khi cha đến thăm, cậu nói với cha: “Chúa sẽ làm con đi được cha ạ” với bộ mặt ngời lên một lòng tin tuyệt đối. Mặc dù như cha nói “ xương của cậu ta bị giòn tan, chỉ cần một tác động hơi mạnh có thể bị gẫy”. Nhưng lòng tin vào Đức Chúa ngời ngợi trong ánh mắt đã làm cho cậu bé đó có nụ cười hồn nhiên, tin tưởng đến tuyệt đối đến như thế, phó thác tất cả cho Ngài đến như thế. Cha kể về nụ cười của cậu bé, nhưng nước mắt cha lại rơi xuống, giọng cha nghẹn lại.

Cha tặng chị và tôi mỗi người một chuỗi hạt Mân Côi và dạy cách đọc kinh. Tôi xin cha: con thích chuỗi hạt mầu đen cơ. Cha nói: Chuỗi này do bà sơ ở trại Si Da cho cha đó, trong tối nó phát quang. Tôi nhận chuỗi hạt từ tay cha và cất vào túi. Nhưng cũng không biết thế nào cha lại vào phòng lấy ra chuỗi hạt vòng tay màu nâu đưa tặng tôi và cũng đưa cho tôi xem một chuỗi Mân Côi bằng thuỷ tinh màu xanh côban, nhưng chuỗi này lại bị mất cây Thập Giá. Cha kể: “Chuỗi hạt này của một cậu cũng bị mắc bệnh si đa, khi nó chết các sơ dọn dẹp và nhặt được và đưa lại cho cha, không hiểu sao nó lại mất cây Thánh Giá”. Tôi cầm lấy, xin cha cho mình và đeo vào cổ, tôi còn bỏ vô trong áo để sát với da thịt mình hơn. Cha hỏi: Sao chuỗi cha tặng con cất, mà chuỗi này con lại đeo ngay? Cha đùa: Không sợ bọ lây si đa sao ? Tôi cười: Chuỗi hạt Cha tặng đó là kỷ vật con rất trân trọng, con sẽ treo lên đầu giường con. Còn chuỗi hạt này con sẽ dùng thường xuyên để cầu nguyện vì con cảm nhận một linh hồn đớn đau đã từng lẫn chuột hạt này và tin tưởng vào lòng yêu thương của Chúa. Cha nhìn tôi hơi ngỡ ngàng trong một giây, nhưng ngay lập tức cha hiểu, người cười và gật đầu.

Vâng ! Từ đó đến nay mỗi Chúa Nhật đi lễ, tôi đều đeo trên cổ mình chuỗi hạt Mân Côi mất Thánh Giá nay và luôn thầm nói với con người mà tôi chưa từng biết, cậu thanh niên đã mất vì căn bệnh si đa đó : “Chị đưa em cùng đi xem lễ cùng với chị đây”. Tôi tin ở trên cao đó linh hồn cậu thanh niên sẽ mừng vui. Thực ra, trong tôi luôn thắc mắc tại sao chuỗi Mân Côi lại bị mất Thánh Giá ? Bởi với Đức Tin như em, chắc chắn chuỗi hạt Mân Côi này được em nâng niu và cẩn trọng đến mức nào. Phải chăng em đã không muốn ai đó phải mang vác cây Thánh Giá của em, phải chăng em đã không muốn ai đó chịu khổ nạn như em? nên em đã dựt đứt nó mang theo mình khi về với Thiên Chúa. Và mỗi lần đi lễ, tôi dâng lên Đức Chúa Toàn Năng lời nguyện cầu: Lạy Chúa, con không xin Chúa ở bên con, nhưng con xin Chúa hãy ban cho những linh hồn đớn đau ở dưới thế này, con cầu khẩn Ngài hãy cho họ tình yêu thương của Ngài.

• Hôm nay ngày 4.4.2015, trong đêm Vọng Phục Sinh chúng tôi đã nhận bí tích Thánh Tẩy trở thày con của cái Thiên Chúa. Sương Quỳnh với tên thánh: Teresa Avila và chị Ánh Hồng với tên thánh: Rosa Lima. Hai tên Thánh này chúng tôi vinh hạnh được linh mục Giuse Đặng Chí San chọn đặt và chính ngài là cha đỡ đầu của chúng tôi.

st Rosa de Lima

Cảm ơn tất cả các bạn đã tới dự Đại Lễ Phục Sinh và chia sẻ với chúng tôi.

Quynh Suong
dẫn lại theo Thanhcao's Blog 
Xem thêm…

Niềm tin …không khoa học

4/07/2015 06:11:00 AM |

Alan Phan
5 April 2015 (Easter Sunday)


(Niềm tin là con chim cảm nhận ánh sáng khi trời còn tối đen – Faith is the bird that feels the light when the dawn is still dark – Tagore) 

Buổi trưa Thứ Sáu, một số anh em tụ họp ở một quán nhỏ khu Bolsa ăn trưa chém gió. Ba gia đình người gốc Việt vừa từ Việt Nam về vài ngày trước đó; nhưng có lẽ chuyện Việt Nam đã trở thành quá nhàm trong cộng đồng nơi đây, nên không ai nói gì về chuyến đi của mình. Những mẩu chuyện quay quanh đề tài cơm áo gạo tiền trên đất Mỹ, rồi hướng về tâm linh, tôn giáo…có lẽ là vì ngày Good Friday.

Một người bạn chân tình nói về bốn khối u ung thư mọc trên lá gan và bắt đầu lan rộng quanh nội tạng khoảng 7 năm trước. Anh không là đại gia, nhưng làm ăn thành công và đời sống rất thoải mái về vật chất. Như những người có tiền, anh thú nhận “quậy” hơi nhiều và gây buồn khổ không ít cho người thân. Khi bác sĩ không chịu “đốt” khối u với laser vì chúng quá to và ăn sâu vào căn cơ, anh lại không muốn hóa trị chỉ để chờ chết, nên bỏ hết mọi việc và suốt ngày vào nhà thờ xưng tội và cầu nguyện, trong khi đợi lá gan để thay (nhưng ở Mỹ, có thể là vài ba năm, dù ưu tiên). Anh nói sau một thời gian, cơ duyên đẩy đưa, anh lạc qua tận bên Trung Quốc thay gan tại một bệnh viện vùng quê ở Vũ Hán. Anh và gia đình không mang nhiều hy vọng, nhưng chết đâu thì cũng thế thôi. Không ngờ anh sống sót và quay về Mỹ sống yên lành với lá gan mới.

Sau một năm, sức khỏe hồi phục tốt, anh quay lại công việc làm ăn và thói quen “quậy”. Vài tháng sau 2 cục u khác mọc lại và anh lại tuyệt vọng tìm đến tôn giáo để xin cứu rỗi. Chu kỳ này tái diễn thêm 2 lần nữa, và lần sau cùng, cách đây vài năm: anh đã hồi tâm, suốt thời gian sống và làm việc cho gia đình và giáo hội. Các khối u đã biến mất, không tái phát. Và lúc nào, anh cũng chia sẻ với mọi người cái sức mạnh không ngờ của niềm tin và sự cầu nguyện.

Câu chuyện của anh làm tôi nhớ lại một trải nghiệm nhìn qua cuộc đời của một cộng tác viên cũ 18 năm về trước. Chester là nhà môi giới chứng khoán công ty tôi thuê để làm các dịch vụ giao tiếp cổ đông (IR = investors’ relation). Anh rất hữu hiệu; nhưng sau vài tháng chúng tôi cho anh ta nghỉ việc vì khám phá ra một chuỗi thành tích bê bối và phi pháp của anh: lường gạt đối tác, ngân hàng và khách hàng, vi phạm luật chứng khoán, viết chi phiếu không tiền bảo chứng, quỵt nợ, khai gian bảo hiểm…Tóm lại, trong 12 năm sự nghiệp của Chester, có đến 11 năm anh chuyên trò lừa bịp. Các cơ quan tư pháp điều tra và suýt tóm cổ anh mấy lần, nhưng anh luôn nhanh chân nhẩy trước kịp thời. Cuối cùng, anh bị bắt, ra tòa lãnh án 8 năm tù.

Ở tù 2 năm, anh bị ung thư từ bao tử đến phổi, vào giai đoạn cuối. Chính quyền thả anh ra và anh về nằm nhà cha mẹ ở Texas chờ chết. Không hiểu cơ duyên nào, anh mò dậy đi theo một nhóm người Mormon xuống Honduras truyền giáo. Anh không quay về Mỹ, mà ở lại một xứ đạo nghèo nơi đây, vùa làm một dân chài, vừa phụ giúp công việc trong nhà thờ. Ba năm sau, anh quay về California, tìm tôi để xin lỗi (tại những chuyện anh lấy danh nghĩa công ty làm bậy, nên chúng tôi bị Sở Chứng Khoán và Bộ Tư Pháp điều tra. Chuyện kết thúc không sao, nhưng chúng tôi tốn vài trăm ngàn tiền luật sư và phí). Bệnh ung thư của Chester biến mất hoàn toàn, anh mạnh khỏe, hồng hào như một trai trẻ. Chỉ khác một điều là anh không còn dáng dấp gì của một chuyên gia tài chánh mà y hệt một anh nông dân từ Honduras, ngay cả trong lối cư xử thật thà và khiêm tốn.

Anh nói phần đời còn lại này anh chỉ biết dành cho Chúa vì Ngài đã “phục sinh” cho anh.

Tôi có vài người bạn Việt và Trung Quốc, lớn lên và được giáo dục trong môi trường duy vật  “vô thần” của Đảng Cộng Sản. Họ là những người học cao và lý luận sắc bén, nhưng khi nói về tôn giáo hay niềm tin trong tâm linh, họ thường cười nhạo chế giễu…và coi tất cả chỉ là những trò mê tín dị đoan của thành phần “bần cố nông” còn sót lại từ các triều đại phong kiến.  Và họ không thiếu những ví dụ, như nhóm IS của Hồi Giáo, nhóm Thập Tự Quân của Thiên Chua Giáo hay những giáo phái Ấn Độ tại các vùng tranh chấp với Hồi Giáo. Niềm tin tâm linh có thể đi quá đà để trở thành cuồng tín và sự hủy diệt những người không chia sẻ niềm tin giống mình (những kẻ “phản đạo” hay “tà đạo”) sẽ trở thành đơn giản như ăn uống. Tôi thường phản biện là dường như Mao và Stalin cũng đồng ý với quan điểm của IS về cách trừ khử những thế lực thù địch này.

Tôi thì luôn tin vào một “Tinh Thần Vũ Trụ” (danh từ thông dụng hơn là Thượng Đế) mà sự đồng cảm và hòa nhập của con người rất cần thiết cho sự bình yên của tâm hồn. Tuy vậy, đôi khi những giáo dục, kiến thức về khoa học và công nghệ khiến mình trở nên một tên trí thức “lùn” ngạo mạn và tự tôn. Đó là loại người dù sống với niềm tin mạnh mẽ trong lặng lẽ của ngày tháng, nhưng lại không muốn minh bạch thú nhận phần “phản khoa học” , “không giải thích được” của sức mạnh tâm linh. Tôi hay lặng lẽ đến những nơi thừa tự vào những ngày vắng lặng để tìm sự siêu thoát khỏi những ô trọc của trần thế; nhưng khi gặp người quen, tôi lại hay ngượng ngùng như mình đã làm một điều gì không hợp “thời trang”.

Đôi khi, tôi tự hỏi những tâm hồn chất phác ít học từ các bộ lạc thời đồ đá đến những  nông dân chân đất hiện nay sẽ cô đơn trần trụi như thế nào nếu họ không có một niềm tin tâm linh để bám víu? Chúng ta chỉ bằng lòng và hãnh diện với những nghi thức phức tạp khi đi lễ tại nhà thờ hay khi đến với những ngôi chùa nghiêm trang đúng chuẩn; nhưng từ rất lâu, rất xa xưa, ngững con người yếu đuối, sợ sệt vẫn tìm một niềm an ủi cho tâm hồn qua Thần Lửa, qua Thiên Thần, qua Quỷ Dữ, qua Phù Thủy….giữa thiên nhiên. Những niềm tin không khoa học này là những cái phao cứu sinh trong dòng nước lũ khắc nghiệt của đời sống suốt 10 ngàn năm qua.  Chúng nuôi dưỡng sự sống của con người không khác gì những thức ăn từ mồi thú hay cây cỏ.

Thượng Đế hiện hữu qua nhiều hình thể, âm thanh và mầu sắc. Một đóa hoa tu-líp kèm trong một Email; một vài câu chí tình từ một cuốn sách; một bài hát từ Saigon cũ… Hãy lặng im, đón nhận Ngài vào trái tim. Trong đêm dài Việt Nam này, tôi nghĩ chúng ta cần Ngài hơn bao giờ hết…
Alan Phan

Nguồn: gocnhinalan
Xem thêm…

Hiểu Sống Đức Tin: Những Người Đã Lập Gia Đình Có Thể Đi Tu Được Không?

1/25/2015 07:31:00 AM |
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Gần đây nghe nói có những Dòng tu được lập cho người đã kết hôn. Đó là tin thực hay tin bịa?

Trước khi trả lời câu hỏi về tính cách xác thực của tin đồn Dòng tu lập cho người đã kết bạn, thiết tưởng nên nhớ lại câu ví ở Việt Nam: “thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Nếu tôi không lầm thì câu ví đó muốn nói rằng tu ở gia đình còn khó hơn là tu ở chùa. Hậu nhiên, nếu muốn lập công đức thì tu ở nhà đủ rồi, cần gì phải tính chuyện vào chùa mới tu được. Lắm khi nghĩ tới cảnh đêm đêm nghe bọn tí nhau khóc oe oe, tôi cũng thấy rằng quả là tu ở nhà khó hơn tu ở chùa thật! Tuy nhiên, xin tạm gác chuyện công phúc ra một bên, để bàn về chuyện người có gia đình mà xin đi tu. Vấn đề cần được xét dưới nhiều khía cạnh. Chúng ta cần phải xác định rõ ràng ý nghĩa của đời tu trì dành cho người đã có hôn thú, cũng như những giới hạn mà giáo luật hiện hành đặt ra. Kế đó chúng ta sẽ xét tới những thử nghiệm còn thăm dò. Trước tiên chúng ta hãy xem những giới hạn của giáo luật hiện hành. Một điều có lẽ hiếm ở Việt Nam nhưng đã được giáo luật chấp nhận là những người góa đi tu. Phải nhận rằng có nhiều trường hợp của các ông góa vợ đi tu hơn là trường hợp của các bà goá chồng. Thêm vào đó chúng ta có thể hiểu việc đi tu vừa theo nghĩa là làm tu sĩ vừa theo nghĩa là làm linh mục. Và tôi đã thấy trường hợp người con linh mục đồng tế với bố vào ngày ông cụ chịu chức! Một hoàn cảnh khác là các người có gia đình xin gia nhập Dòng Ba. Dĩ nhiên đây là hiểu việc đi tu theo nghĩa rộng, khi mà người chồng hoặc người vợ hoặc cả hai vợ chồng hứa tuyên giữ kỷ luật Dòng Ba (thí dụ Dòng Ba Đaminh, Phanxicô, Carmêlô). Đôi khi họ cũng được lãnh tu phục (nhất là các bà), nhưng điều này không có nghĩa là họ trở thành tu sĩ. Hội Dòng Ba cũng tương tự như những hội đoàn tông đồ giáo dân khác nhằm mục đích giúp cho các giáo dân sống ơn gọi thánh thiện hoặc tham gia vào sinh hoạt tông đồ, chứ không phải là tu hội. Đó là hai hình thức cổ truyền theo giáo luật mà ta có thể nói tới chuyện đi tu của những người đã lập gia đình, tức là hoặc vì người bạn đã qua đời hay chỉ là hình thức Dòng Ba.

Thế còn bây giờ người ta muốn tiến tới đâu nữa?

Người ta muốn tiến tới chỗ là những người tuy đã lập gia đình và người bạn mình còn sống, có thể được tận hiến theo nghĩa chặt chứ không phải chỉ như hội viên Dòng Ba.

Như vậy là họ muốn bắt cá hai tay, vừa muốn đi tu vừa muốn có gia đình. Tại sao không chọn lựa dứt khoát một đường cho xong mà lại muốn đứng chân trong chân ngoài như vậy?

Thiết tưởng chúng ta đừng vội phán đoán trước khi tìm hiểu tất cả những lý do và động lực của hình thức tu trì dành cho những người đã lập gia đình. Dĩ nhiên, không thể nào chấp nhận cho các tu sĩ đã khấn hứa khiết tịnh trọn đời và sau đó lại còn muốn kết hôn. Đây quả đúng là muốn bắt cá hai tay: nếu người tu sĩ nào cảm thấy không có khả năng sống lời cam kết độc thân thì họ sẽ xin tháo lời khấn để đi kết bạn, chứ không thể vừa mang danh là tu sĩ mà lại vừa là người có gia đình. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra cho những người đã lập gia đình mà muốn sống theo những yêu sách triệt để của Phúc âm. Vấn đề được gợi lên với một cái nhìn mới về giá trị hôn nhân. Trước đây, người ta cho rằng việc nên thánh được dành cho các tu sĩ, những người được ơn kêu gọi dâng mình cho Chúa. Còn những người tầm thường, không thể giữ mình khiết tịnh được thì đành an phận đi kết bạn sinh con đẻ cái. Với một quan niệm như vậy, các đôi vợ chồng khỏi cần phải nghĩ đến chuyện nên thánh làm gì. Họ ráng sao giữ trọn mười điều răn để rỗi linh hồn là đủ rồi. Thế nhưng công đồng Vaticanô II đã sửa đổi não trạng đó. Tất cả các tín hữu đều được kêu gọi nên thánh, bất kỳ là người độc thân hay đã lập gia đình. Hậu nhiên các tín hữu không nên dừng lại ở mức độ tầm thường (lo tránh tội trọng kẻo sa hỏa ngục), nhưng cần cố gắng tiến tới đức ái trọn hảo nữa.

Như vậy là công đồng khuyến khích các người có đôi bạn hãy đi tu, có phải không?

Không phải như vậy. Công đồng không có ý định bảo rằng nếu các tín hữu muốn nên trọn lành thì phải từ bỏ vợ con để đi tu! Việc nên thánh hệ tại thực hành đức ái, đặc biệt qua việc sống các mối phúc thật. Mặt khác, không thể chối cãi được rằng trải qua dòng lịch sử, sự thánh thiện Kitô giáo gắn liền với việc tuân giữ ba lời khuyên Phúc âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời. Từ đó chúng ta có thể hiểu được lý do vì sao có chuyện những người đã kết bạn mà còn muốn đi tu. Dĩ nhiên là họ không chủ ý bỏ bê chuyện gia đình để rút lui vào tu viện kín cổng cao tường, nhưng họ muốn tìm cách để sống các mối Phúc thật (cách riêng 3 lời khuyên Phúc âm) trong bậc hôn nhân.

Nhưng đó mới là dự án hay là đã có được áp dụng?

Đã có vài thí nghiệm rồi. Những cuộc thí nghiệm này cũng có đà tiến triển của nó. Những bước đầu tiên đã có vào thập niên 50, kể từ khi các Tu hội đời được Toà thánh châu phê. Như chị đã biết, các hội viên Tu hội đời sống lăn lộn giữa đời chứ không rút lui vào tu viện; họ làm nghề nghiệp như bao nhiêu người khác, chứ không có những cơ sở chung. Vài Tu hội đời đã dự trù hai loại hội viên: những hội viên theo nghĩa chặt, phải tuyên hứa giữ khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời; những hội viên theo nghĩa rộng thì bao gồm cả những người đã lập gia đình, lúc đầu thì được thâu nhận từng người một, về sau thì cả đôi đều xin được kết nạp. Sang bước thứ hai, các Tu hội đời ước ao cho những người đã kết bạn cũng được kết nạp như phần tử chính danh, với đầy đủ các nghĩa vụ và bổn phận. Bộ Tu sĩ đã phải can thiệp vào năm 1975, không chấp nhận giải pháp này. Bộ giáo luật ban hành năm 1983 cũng duy trì lập trường đó ở đ.721 $1, số 3. Thấy rằng lối này bị cụt, người ta xoay qua lối khác. Một vài Dòng tu đứng ra lập cộng đoàn trong đó có ba nhóm: các người độc thân nam và nữ, các người có đôi bạn cùng với con cái của họ. Dần dần, người ta tiến thêm một bước nữa là chỉ lập những cộng đoàn dành riêng cho những đôi vợ chồng (dù có con hay không). Dĩ nhiên ta có thể hình dung được rằng cách tổ chức những cộng đoàn như vậy không có tính cách chặt chẽ như là các tu viện. Dù sao thì những hình thức cộng đoàn này còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, và thường chỉ gồm trên dưới chừng 10 cặp hôn nhân.

Liệu trong tương lai các cộng đoàn này sẽ có cơ hội bành trướng hay không?

Tôi không phải là tiên tri nên không dám dự đoán tương lai. Chỉ xin ghi nhận những vấn nạn mà các nhà thần học và giáo luật đang tranh luận. Vấn nạn quan trọng nhất không phải là bắt cá hai tay (vừa muốn lập gia đình lại còn muốn đi tu). Nhưng vấn nạn quan trọng nhất là ý nghĩa của lời khấn khiết tịnh. Xưa nay, học thuyết cũng như quan niệm bình dân đặt sự độc thân như là yếu tố căn bản của lời khấn khiết tịnh tu trì. Thế thì làm sao áp dụng cho những người đã kết bạn và tiếp tục duy trì đời hôn nhân? Để giải quyết vấn nạn này, người ta đưa ra hai giả thuyết thế này:

1) Sự độc thân không phải là cốt yếu của lời khuyên khiết tịnh: có thứ khiết tịnh trong bậc độc thân cũng như có thứ khiết tịnh trong bậc vợ chồng.

2) Khi khấn khó nghèo, tu sĩ dâng cho Chúa khả năng chiếm hữu và sử dụng tài sản, nhưng điều này không có nghĩa là họ sẽ không bao giờ đụng tới tài sản. Họ vẫn có thể và cần phải sử dụng tài sản, tuy rằng không phải như là tư hữu của mình nữa nhưng như là của Chúa. Một cách tương tự như vậy, những người đã có đôi bạn có thể khấn khiết tịnh với Chúa, nghĩa là dâng hiến người bạn trăm năm cho Chúa, và rồi sau đó lại lãnh nhận không phải như là người yêu độc hữu của mình nữa, song như là món quà của Chúa, được ban như người bạn đường của mình.


Những ý kiến đó có được Giáo hội chấp nhận không?

Chắc chắn là nhà chức trách của Giáo hội vui mừng vì thấy có những đôi hôn nhân muốn dấn thân trên đường trọn lành và trên đường phụng sự Nước Chúa. Nhưng cho đến nay, Giáo hội không xếp họ vào hàng ngũ tận hiến. Lập trường của Giáo hội được bày tỏ trong tông thư của đức Gioan Phaolô II về đời sống tận hiến, ở số 62. Đức Thánh Cha cũng nhắc cho các đôi vợ chồng nhớ là bí tích hôn nhân cũng là một hình thức thánh hiến, do đó không nên trà trộn với sự thánh hiến qua việc tuân giữ sự khiết tịnh độc thân.
Xem thêm…

SỔ TAY TÂN PHÚC ÂM HÓA - 1

1/18/2015 09:35:00 PM |
PHẦN I MỐI BẬN TÂM HIỆN NAY CỦA HỘI THÁNH VỀ GIA ĐÌNH

THÔNG CÁO 
CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
 
VỀ VIỆC TÔN KÍNH TỔ TIÊN

Ngày 20-10-1964, Tòa Thánh, qua Bộ Truyền giáo đã chấp thuận đề nghị của Hàng Giám Mục Việt Nam xin áp dụng huấn thụ Plane compertum est (8-12-1939), về việc tôn kính tổ tiên cho giáo dân Việt Nam.
Để hiểu rõ tinh thần Giáo Hội trong việc chấp thuận này, và để có những chỉ thị hướng dẫn trong khi áp dụng, Hội đồng Giám mục muốn nêu lên mấy điểm sau đây:

I. Giáo hội Công Giáo đối với nền văn hóa và truyền thống các dân tộc

1) Giáo Hội Chúa Kitô bao giờ cũng tha thiết thực hiện mệnh lệnh Đấng Sáng Lập, để hiện diện khắp nơi và tuyên giảng Phúc Âm cho mọi người. Cố gắng đầu tiên của Giáo Hội là giúp sao cho con người được nên hình ảnh đích thực của Thiên Chúa và được trung thực với sứ mệnh Kitô hữu của mình, để đạt cứu cánh sau hết là hạnh phúc đời đời. Công trình đó được thực hiện trong nội khảm của mỗi cá nhân. Nhưng nó có vang âm đến toàn diện cuộc đời và trong mỗi khu vực sinh hoạt của con người (Đức Piô XII: Huấn dụ tại Cơ Mật Viện, ngày 20-2-1946).
2) Mặt khác, từ nguyên thủy cho đến ngày nay, Giáo Hội Công Giáo vẫn tuân theo tiêu chuẩn Phúc Âm. Theo đó, Giáo Hội không hủy bỏ hay dập tắt những giá trị thiện hảo, liêm chính, chân thành của các dân tộc. Âu cũng vì bản tính nhân loại, dù còn mang dấu vết sự sa ngã của tổ tông, song vẫn giữ trong nội tâm một căn bản tự nhiên mà ánh sáng và ân sủng Thiên Chúa có thể soi chiếu, dinh dưỡng và nâng lên tới một mức độ đức hạnh, một nếp sống siêu nhiên đích thực. Cũng vì vậy mà Giáo Hội không bao giờ miệt thị, khinh chê tư tưởng cũng như nghệ thuật hoặc văn hóa của người không Công giáo. Trái lại, Giáo Hội đã từng góp phần thanh luyện hoặc bổ túc để đi đến chỗ hoàn hảo. Trải qua các thế kỷ, Giáo Hội đã thánh hóa những phong tục cũng như những truyền thống chân chính của các dân tộc. Giáo Hội cũng đã nhiều lần đem nghi lễ của miền này xứ nọ sát nhập vào nền phụng vụ của mình, sau khi đã tu chỉnh cả tinh thần và hình thức, để ghi nhớ mầu nhiệm hoặc để tôn kính các bậc thánh nhân hay các vị tử đạo (Đức Piô XII: Thông điệp Evangeli praecones, 2-6-1951; Đức Gioan XXIII trích dẫn tư tưởng này trong thông điệp Princeps Pastorum, 28-11-1959).
3) Đối với các tôn giáo khác, Giáo Hội Công Giáo cũng chủ trương một lập trường rõ rệt. Dĩ nhiên Giáo Hội không thể tham dự vào các nghi lễ của các tôn giáo khác, hoặc coi tôn giáo nào cũng như tôn giáo nào, và lãnh đạm để mặc ai muốn hay không muốn tìm xem Thiên Chúa có mạc khải một đạo không sai lầm, trong đó Thiên Chúa được nhận biết, kính mến và phụng thờ. Tuy nhiên, Giáo Hội không từ chối công nhận một cách kính cẩn những giá trị tinh thần và luân lý của các tôn giáo khác (Đức Phaolô VI, thông điệp Ecclesiam suam, 6-8-1964). Giáo Hội không phủ nhận điều gì vốn là chân lý và thánh thiện của bất cứ tôn giáo nào. Giáo Hội luôn luôn rao truyền Đức Kitô là “đường đi, là chân lý và là nguồn sống” và, trong Đức Kitô, Thiên Chúa làm hòa với muôn vật.
Tuy nhiên Giáo Hội thành tâm và lưu ý cứu xét những hành động và sinh hoạt, những luật pháp và lý thuyết của các tôn giáo khác tuy có sai biệt với những điểm Giáo Hội đề ra, song vẫn mang lại một tia sáng nào đó của chính cái chân lý hằng soi sáng mọi người. Vì thế, Giáo Hội khuyên giục con cái mình tuy vẫn phải giữ đức tin Công giáo tuyền vẹn, nhưng phải làm thế nào để nắm giữ và phát triển những của cải thiêng liêng, luân lý và những giá trị xã hội, văn hóa, gặp được trong các tôn giáo khác nhờ những buổi hội thảo, sự học hỏi và sự cộng tác với các tín đồ của các tôn giáo này (Công đồng Vatican II, khóa III: Giáo Hội và các tôn giáo ngoài Kitô giáo, ngày 20-11-1964)
Chính lập trường đó của Giáo Hội được đúc kết trong tư tưởng của các Đức Giáo Hoàng và trong đệ nhị Công đồng Vatican, đã giải thích lý do của quyết định Tòa Thánh, khi cho áp dụng huấn thị Plane compertum est tại Việt Nam ngày nay. Và cũng chiếu theo tinh thần đó, các Giám mục hội nghị tại Đà Lạt trong những ngày 12, 14-06-1965 đã cho công bố thông cáo này.

II. Thể thức áp dụng Huấn thị Plane compertum est

1) Nhiều hành vi cử chỉ xưa kia tại Việt Nam, có tính cách tôn giáo, nhưng nay vì sự tiếp xúc với bên ngoài và vì tâm tình, tập quán đã thay đổi nhiều, nên chỉ còn là những phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính đối với tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ. Những cử chỉ, thái độ, nghi lễ có tính cách thế tục, lịch sự và xã giao đó, Giáo Hội Công Giáo chẳng những không ngăn cấm mà còn mong muốn và khuyến khích cho nó được diễn tả bằng những cử chỉ riêng biệt của mỗi nước, mỗi xứ và tùy theo trường hợp.
Vì thế, những cử chỉ, thái độ và nghi lễ tự nó hoặc do hoàn cảnh, có một ý nghĩa thế tục rõ ràng là để tỏ tinh thần ái quốc, lòng hiếu thảo, tôn kính hoặc tưởng niệm tổ tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ (như treo ảnh, hình, dựng tượng, nghiêng mình bái kính, trưng hoa đèn, tổ chức ngày kỵ, giỗ...) thì được thi hành và tham dự cách chủ động.
2) Trái lại, vì có nhiệm vụ bảo vệ đức tin Công Giáo được tinh tuyền, Giáo Hội không thể chấp nhận cho người giáo hữu có những hành vi cử chỉ, hoặc tự nó, hoặc do hoàn cảnh có tính cách tôn giáo trái với giáo lý mình dạy.
Vì thế, các việc làm có tính cách tôn giáo không phù hợp với giáo lý Công Giáo (như bất cứ lễ nghi nào biểu lộ lòng phục tùng và sự lệ thuộc của mình đối với một thụ tạo nào như là đối với Thiên Chúa), hay những việc dị đoan rõ rệt (như đốt vàng mã), hoặc cử hành ở những nơi dành riêng cho việc tế tự... thì giáo hữu không được thi hành và tham dự. Trong trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện một cách thụ động như đã ấn định trong giáo luật, khoản 1258 (GL 1917).
3) Đối với những việc mà không rõ là thế tục hay tôn giáo, thì phải dựa theo nguyên tắc này, là nếu những hành vi đó, theo dư luận dân chúng địa phương không coi như sự tuyên xưng tín ngưỡng của một tôn giáo (ngoài Kitô giáo), mà chỉ biểu lộ một tâm tình tự nhiên, thì được coi như không trái với đức tin Công Giáo, nên được thi hành và tham dự. Trong trường hợp chưa hết nghi nan, thì có thể hành động theo tiếng lương tâm lúc ấy: nếu cần, thì phải giải thích chủ ý của mình một cách khéo léo, hợp cảnh, hợp thời. Sự tham dự cũng chỉ được có tính cách thụ động.
Đó là những nguyên tắc chung, giáo hữu cần phải dựa vào mà xét đoán theo lương tâm và hoàn cảnh. Trong trường hợp hồ nghi, mọi người liên hệ không được theo ý riêng mình, mà sẽ phán đoán theo chỉ thị của Tòa Thánh và bàn hỏi với các giáo sĩ thành thạo.
Yêu cầu quý cha phổ biến rộng rãi và giải thích tường tận thông cáo này không những trong các nhà thờ mà cả mỗi khi có dịp, không những cho anh em giáo hữu mà cả cho người ngoài Công Giáo. Các vị phụ trách Công Giáo Tiến Hành cũng phải lấy thông cáo này làm đề tài học tập cho các hội đoàn trong các buổi họp và các khóa huấn luyện.
Làm tại Đà Lạt, ngày 14 tháng 6 năm 1965
Sacerdos-Linh Mục Nguyệt San, số 43, tháng 7-1965, trang 489-492
§1 Người tín hữu không được phép tham dự cách chủ động bằng bất cứ cách nào, hoặc tham dự một phần trong các nghi thức của người không Công giáo.
§2 Có thể chước chuẩn cho người tín hữu hiện diện cách thụ động, hay chỉ có tính cách bề ngoài vì trách nhiệm dân sự hoặc vì danh tiếng, bởi có lý do quan trọng, trường hợp nghi ngờ đã được Giám mục xác nhận. Trong các lễ an táng người không Công giáo, các đám cưới và những cuộc lễ long trọng tương tự, miễn là không có nguy hiểm làm gương mù và sinh lợi.


QUYẾT NGHỊ
VỀ LỄ NGHI TÔN KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN

Chúng tôi, các Giám mục chủ tọa khóa hội thảo VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc, tại Nha Trang ngày 12-14 tháng 11 năm 1974, đồng chấp thuận cho phổ biến việc thi hành trong toàn quốc, những quyết nghị của Ủy Ban Giám mục về Truyền Bá Phúc Âm ngày 14.6.1965, về các lễ nghi tôn kính Ông Bà Tổ Tiên, như sau:
“Để đồng bào lương dân dễ dàng chấp nhận Tin Mừng, hội nghị nhận định: Những cử chỉ thái độ, lễ nghi (sau này) có tính cách thế tục lịch sự xã giao để tỏ lòng hiếu thảo, tôn kính và tưởng niệm các Tổ Tiên và các bậc anh hùng liệt sĩ, nên được thi hành và tham dự cách chủ động” (Thông cáo Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 14.06.1965).
1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ Tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.
2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.
3. Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoan mê tín, như đốt vàng mã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.
4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm “Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên” trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với Ông Bà.
5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố.
6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối với các “yêu thần, tà thần”.
Trong trường hợp thi hành các việc trên đây sợ có sự hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu khích lệ, thông cảm… Đối với giáo dân, cần phải giải thích cho hiểu việc tôn kính Tổ Tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theo phong tục địa phương, là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc tôn kính liên quan đến tín ngưỡng, vì chính Chúa cũng truyền phải “thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa.

Tại Nha Trang, ngày 14.11.1974
                   Ký tên:
- Philiphê Nguyễn Kim Điền, TGM Huế
- Giuse Trần Văn Thiện, GM Mỹ Tho
- Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, GM Vĩnh Long
- Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, GM Cần Thơ
- Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, GM Nha Trang
- Phêrô Nguyễn Huy Mai, GM Ban Mê Thuột
- Phaolô Huỳnh Đông Các, GM Qui Nhơn
Xem thêm…

SỔ TAY TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH VÀ GIA TỘC

12/28/2014 10:46:00 PM |
Kính thưa quý vị!
Năm nay, năm tân phúc âm cộng đoàn và giáo xứ. Mặc dù năm Tân phúc âm hóa gia đình đã qua nhưng dù gì, gia đình vẫn là nền tảng của Giáo hội. Vì vậy, blog sẽ đăng tải nội dung cuốn sách  Sổ tay tân phúc âm hóa gia đình và gia tộc do Ban mục vụ gia đình và  Ban mục vụ văn hóa giáo phận Qui Nhơn Biên soạn.

Sau đây là phần giới thiệu và mục lục

SỔ TAY
TÂN PHÚC ÂM HÓA
GIA ĐÌNH VÀ GIA TỘC
  
IMPRIMATUR
Qui Nhơn, ngày 01 tháng 12 năm 2013
X Matthêô Nguyễn Văn Khôi
Giám mục giáo phận Qui Nhơn
  


Tủ sách Nước Mặn 09



LỜI GIỚI THIỆU



Trong khung cảnh trước và sau ngày khai mạc Năm Đức Tin (11.10.2012), Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII tại Rôma, từ ngày 7 đến 28 tháng 10 năm 2012, với chủ đề: “Tân Phúc-âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”.
Tân Phúc-âm-hóa là rao giảng Tin Mừng bằng nhiệt tình mới, với những phương pháp mới và những cách diễn tả mới, cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Cuộc Tân Phúc-âm-hóa phải bắt đầu từ mỗi gia đình công giáo là Hội Thánh thu nhỏ, nhờ đó mỗi Kitô hữu tái khám phá và làm mới lại đức tin của mình, đổi mới cuộc sống theo tinh thần Phúc Âm, để có thể ra đi rao giảng Tin Mừng cho kẻ khác một cách hăng say và có hiệu quả.
Vì thế, trong năm 2014 này, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kêu gọi mọi người Công giáo Việt Nam cùng nhau phúc-âm-hóa đời sống gia đình và thúc đẩy các gia đình tham gia tích cực vào sứ vụ loan báo Tin Mừng.[1] Cũng trong năm này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ triệu tập một Thượng Hội Đồng đặc biệt về gia đình, từ ngày 5 đến 18 tháng 10, với chủ đề: “Các thách đố mục vụ của gia đình trong bối cảnh Tân Phúc-âm-hóa”.
Việc Tân Phúc-âm-hóa đòi buộc mỗi gia đình công giáo không những phải là những cộng đoàn cầu nguyện, phục vụ sự sống, mà còn phải gia tăng đức ái để trở thành những cộng đoàn yêu thương kiểu mẫu, trong đó mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau phải là dấu chỉ sống động của Tình Yêu Thiên Chúa, và cuối cùng phải trở thành những cộng đoàn tham gia vào sứ vụ phúc-âm-hóa của Giáo Hội.[2]
Để giúp các gia đình công giáo thực hiện công cuộc Tân Phúc-âm-hóa, Ban Mục Vụ Gia Đình và Ban Mục Vụ Văn Hóa của Giáo Phận Qui Nhơn xin gửi đến các gia đình quyển SỔ TAY TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH VÀ GIA TỘC gồm 2 phần. Phần I với tựa đề “Mối bận tâm hiện nay của Hội Thánh về gia đình”, gồm những văn bản hướng dẫn của các vị chủ chăn. Phần II với tựa đề “Một số chỉ dẫn thực hành”, gồm 54 đề tài cụ thể được biên soạn ngắn gọn dựa theo giáo huấn của Hội Thánh và được tập hợp thành 3 đề mục: “Gia đình giáo dục”, “Gia đình sống đạo” và “Gia đình truyền giáo”.
Tôi trân trọng giới thiệu quyển sổ tay này với các gia đình như một nỗ lực nhỏ bé nhằm giúp các gia đình thực hiện việc Tân Phúc-âm-hóa chính mình, để trở thành những cộng đoàn sống đức tin và truyền bá đức tin trong môi trường sống của mình.

              Qui Nhơn, Chúa nhật I Mùa Vọng, 01.12.2013
              X Matthêô Nguyễn Văn Khôi
              Giám mục giáo phận Qui Nhơn



MỤC LỤC

PHẦN I: MỐI BẬN TÂM HIỆN NAY CỦA HỘI THÁNH VỀ GIA ĐÌNH
I. THÔNG CÁO CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM VỀ VIỆC TÔN KÍNH TỔ TIÊN
II. QUYẾT ĐỊNH VỀ LỄ NGHI TÔN KÍNH ÔNG BÀ TỔ TIÊN
III. THƯ CHUNG 2007 CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM VỀ GIÁO DỤC KITÔ GIÁO: GIÁO DỤC HÔM NAY, XÃ HỘI VÀ GIÁO HỘI NGÀY MAI
IV. THƯ CHUNG 2013 CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA: HỘI THÁNH CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM VÀ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC ÂM HÓA
V. THƯỢNG HỘI ĐỒNG ĐẶC BIỆT VỀ GIA ĐÌNH

PHẦN II: MỘT SỐ CHỈ DẪN THỰC HÀNH

I. GIA ĐÌNH GIÁO DỤC
01. Giáo dục từ trong bào thai
02. Giáo dục trẻ sơ sinh
03. Giáo dục tuổi vào đời
04. Giáo dục bằng gương sáng
05. Giáo dục theo các giá trị chính yếu của đời người
06. Dạy con cái biết cầu nguyện
07. Dạy con cái hướng tới nhân đức
08. Đào tạo các nhân đức căn bản
09. Đào tạo trí phán đoán
10. Đào tạo đức công bằng
11. Đào tạo tinh thần ích chung
12. Đào tạo tinh thần kỷ luật và từ bỏ
13. Đào tạo tinh thần phục vụ
14. Đào tạo tình bác ái và lòng hiếu khách
15. Đào tạo sự thành thật
16. Đào tạo sự khiêm nhường
17. Đào tạo lòng yêu mến Lời Chúa
18. Đào tạo tinh thần Hội Thánh
19. Đào tạo tinh thần phụng vụ
20. Đào tạo tinh thần truyền giáo
21. Đào tạo tình gia đình
22. Đào tạo tình gia tộc
23. Phát huy truyền thống đạo hiếu
24. Tôn trọng con cái
25. Lo cho con cái học giáo lý
26. Chăm sóc việc học của con cái
27. Gieo mầm ơn gọi
28. Việc chuẩn bị hôn nhân
29. Tủ sách gia đình
30. Các phương tiện truyền thông xã hội

II. GIA ĐÌNH SỐNG ĐẠO
01. Gia đình là Hội Thánh nhỏ
02. Noi gương gia đình Nadarét
03. Một bầu khí hạnh phúc và thánh thiện
04. Phẩm giá người phụ nữ
05. Người nam là chồng và là cha
06. Những người già cả trong gia đình
07. Hưởng ứng tiếng gọi hoán cải
08. Phát huy ba nhân đức tin, cậy, mến
09. Gia đình sống bác ái
10. Nên thánh trong việc bổn phận hằng ngày
11. Sắp xếp việc nhà để nên thánh
12. Quả cảm theo Chúa giữa đời thường
13. Giờ kinh sáng tối
14. Giờ kinh cho những dịp đặc biệt trong gia đình
15. Chia sẻ và hiệp thông trong tang lễ
16. Bàn thờ gia tiên và tình đồng tộc
17. Dưới mái từ đường của trăm họ

III. GIA ĐÌNH TRUYỀN GIÁO
01. Giúp bạn trẻ học truyền giáo
02. Loan báo Tin Mừng qua lễ hôn phối
03. Gia đình làm tông đồ cho gia đình
04. Các gia đình liên kết giúp nhau sống đạo
05. Gia đình hy sinh và cầu nguyện cho truyền giáo
06. Theo dõi chăm sóc hạt nẩy mầm
07. Qua Mẹ Maria đến với Chúa Giêsu
 



[1] Xem HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, Thư chung 2013 gửi cộng đồng Dân Chúa (10.10.2013), số 5.
[2] Xem Thư chung 2013, số 6.
 


 
Xem thêm…

Trang Đang chỉnh sửa

12/27/2014 01:28:00 PM |


Xin thông báo:  Trang đang chỉnh sửa templent nên có nhiều bất cập
xin quý vị thông cảm!
Chan thành cám ơn!
Vô Thường
Xem thêm…

Copyright ©THT - Được biên soạn và sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau - Ghi rõ nguồn:http://bacsitihon.blogspot.com/ - Khi phát hành thông tin trên trang này
Gx Đaminh | Namkna | Trung Tâm Học Vấn Đaminh | Kho tài liệu hay |