Home » Thần Học
SỰ DỮ, MỘT VẤN ĐỀ NAN GIẢI (Phần V)
3/03/2015 08:08:00 AM |
Phần 5: GIẢI PHÁP BẰNG LÒNG TIN VÀ HÀNH ĐỘNG
Niềm tin và sự liên kết với Con Người của những đau khổ, Đức Kitô Con
Thiên Chúa, Đấng đã bị treo trên khổ giá vì tội lỗi chúng ta và để cứu
độ chúng ta. Đức Kitô đã không loại trừ đau khổ, thậm chí Ngài đã không
muốn mạc khải cho chúng ta trọn vẹn mầu nhiệm này: Ngài đã gánh lấy đau
khổ trên mình và như thế cũng đã đủ để chúng ta hiểu được tất cả cái giá
của sự đau khổ. Hỡi tất cả các bạn, những người đang cảm thấy sức nặng
của thập giá đè trên vai, những người nghèo khổ và bị bỏ rơi, những
người đang than khóc, những người bị bách hại vì công lý, những người
không ai đếm xỉa tới, những nạn nhân vô danh của sự đau khổ. Hãy can đảm
lên: Các bạn là những người được ưu ái của Nước Thiên Chúa, Nước của hy
vọng, của hạnh phúc và của sự sống: Các bạn là những người anh em của
Đức Kitô đau khổ, và nếu muốn, các bạn sẽ cùng với Ngài cứu vớt thế gian
này.[1]
Cũng như bao con người khác, người Kitô hữu đã cần đến những phương thế
của nhân loại để giải quyết nguyên nhân hay hậu quả của sự dữ. Tuy
nhiên, họ không dừng lại hay nói đúng hơn là đặt tất cả hy vọng của mình
nơi những phương thế đó. Trên hết, tất cả mọi hoàn cảnh, người Kitô hữu
vẫn đặt hy vọng của mình nơi Thiên Chúa. Chính niềm tin vào Thiên Chúa
đã cho con người tin có được can đảm để đón nhận, để đương đầu với sự
dữ. Nhờ niềm tin mà họ biết được rằng những gì họ đang phải chịu không
phải là điều hoàn toàn vô lý.
Trong lúc gian nguy, người có niềm tin thực sự vào Thiên Chúa sẽ tìm
được câu trả lời cho đau khổ của mình. Câu trả lời đó chính là Chúa
Giêsu chịu đóng đinh trên cây thập giá. Khi nhìn lên Chúa Giêsu trên
thập giá, trong lúc đau khổ, người tin sẽ biết rằng mình không đơn độc,
không bị bỏ rơi. Nếu con người cứ dùng lý trí để tìm hiểu: Thiên Chúa
toàn năng tại sao Người không loại trừ sự dữ? Con người sẽ không nhận
được câu trả lời thoả đáng cho lý trí của mình về vấn đề sự dữ. Nhưng
nếu con người biết rằng Thiên Chúa là tình yêu và nhận ra được tình yêu
của Người thể hiện nơi con người, thì một phần nào đó câu trả lời về sự
dữ sẽ được thỏa đáng.
Để trả lời cho những thắc mắc của con người về sự dữ, Thiên Chúa đã
không đề nghị một triết lý; mặt khác, Người cũng không tỏ ra xa lạ với
tội lỗi và các hậu quả của tội. Câu trả lời của Thiên Chúa là “khuôn mặt
không còn hình người” của Đấng chịu đóng đinh trên thập giá. Gặp được
khuôn mặt này là tìm được câu trả lời cho vấn đề sự dữ. Không có thập
giá,Thiên Chúa sẽ ở bên này và ta ở bên kia. Với thập giá, Thiên Chúa
đứng về phía những người bị áp bức, bóc lột, những nạn nhân vô tội[2].
Dù thế, con người vẫn không dễ dàng nhận ra tình yêu và chấp nhận câu
trả lời này. Câu trả lời mà con người không thể nhận bằng lý trí, nhưng
bằng con tim, bằng chính tình yêu. Chỉ có tình yêu mới có thể hiểu được
và đáp trả được cho tình yêu.
Thiên Chúa làm tất cả vì yêu thương con người. Ngài tìm đủ cách để nói
với con người rằng Ngài yêu thương họ, và cuối cùng, Ngài đã trở thành
một con người đến chia sẻ kiếp sống của con người. Ngài đã đồng hành và
chia sẻ kiếp sống đau khổ với con người. Và rồi Ngài đã thể hiện tình
yêu đó một cách trọn vẹn qua cái chết trên thập giá. Ngài đã chiến thắng
sự dữ bằng lòng tin của Ngài vào Thiên Chúa Cha và chứng minh tình yêu
của Ngài đối với nhân loại.
Tin là một hành động tự do. Cho nên không một suy tư hay bằng chứng nào
có thể mang lại niềm tin cho người khác. Tin là một hành động nhân linh
cao quý nhất nơi con người; nó hoàn toàn phù hợp với thân phận của con
người, bởi vì bao lâu còn sống là bấy lâu con người còn phải tin tưởng.
Do đó, niềm tin vào Thiên Chúa là điều cốt yếu. Chỉ có niềm tin vào
Thiên Chúa là tình yêu, con người mới có thể giải quyết được vấn đề sự
dữ, vì chỉ một mình Thiên Chúa là kẻ chiến thắng sự dữ.
2. Bằng hành động
Hiện nay, con người tự hào vì đã đạt được những tiến bộ về mọi mặt: kiến
thức của con người ngày càng gia tăng, cuộc sống con người ngày càng
đầy những tiện nghi. Tuy nhiên, tội ác và sự dữ vẫn còn đó. Mỗi ngày
chúng ta bị bao vây bởi không biết bao nhiêu hành động tội ác. Có những
tội ác chúng ta chứng kiến được bằng hình ảnh, có những tội ác chúng ta ý
thức được. Nhưng còn biết bao hành động tội ác mà vì lương tâm chai lì,
chúng ta không nhận ra được. Mỗi ngày có biết bao người rên siết quằn
quại trong đau khổ, có biết bao nhân phẩm bị chà đạp, có biết bao thai
nhi bị tước đoạt quyền sống. Tội ác vẫn song hành với lịch sử loài
người: mỗi trang sử nhân loại đều bị hoen ố bởi tội ác.
Tội ác đã đi vào trong thế gian. Tội ác đã ở ngay trong bản tính con
người. Đó là một trong những khẳng định nền tảng của Kitô giáo. Khi nói
đến mầu nhiệm của con người. Thiên Chúa đã tỏ cho con người biết phẩm
giá cao cả của nó là được Ngài tạo dựng để sống yêu thương và hạnh phúc,
nhưng đồng thời cũng nói cho con người biết rằng con người đã phạm tội.
Sự kiện tội ác tự nó không phải là một mầu nhiệm. Tội ác là mầu nhiệm,
bởi vì con người không hiểu biết tại sao mình phạm tội và hướng về điều
xấu. Thánh Phaolô suy tư về tội ác và thốt lên rằng: “điều thiện tôi
muốn, tôi không làm, còn điều ác tôi không muốn, tôi lại làm”[3]. Phải
chăng đó là kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta? Biết bao lần trong cuộc
sống, chúng ta phải vật lộn với sức mạnh vô hình trong chúng ta luôn lôi
kéo chúng ta về điều ác. Thiên Chúa đã mặc khải cho con người biết con
người là ai; Thiên Chúa cũng mặc khải cho con người biết họ đã phạm tội
và tội lỗi như một sức mạnh khủng khiếp đã xâm nhập trong con người.
Đứng trước thảm trạng của sự dữ, người Kitô hữu cần nhận biết rằng Thiên
Chúa là tình yêu. Người không bất lực trước sự dữ, không vui thú khi
con người phải đau khổ, nhưng đã đến, đã sống, đã chia sẻ đau khổ với
con người và chia sẻ đến cùng là cái chết thảm thương. Do đó, người Kitô
hữu chúng ta có bổn phận góp sức để loại trừ sự dữ, để đem lại niềm
vui, sự nâng đỡ đến cho những ai đau khổ. Họ sẽ cùng “vui với kẻ vui,
khóc với kẻ khóc” như Thánh Phaolô đã dạy. Do đó, “người Kitô hữu chắc
chắn cần phải có bổn phận chiến đấu chống lại sự dữ khi phải trải qua
nhiều gian nan cũng như cái chết nữa”[4].
“Con người cũng khám phá ra rằng mình đã hướng về sự dữ và đã ngụp lặn
trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hoá
tốt lành của mình. Con người cũng đã phá đổ trật tự phải có để đạt tới
cùng đích của mình. Và đồng thời phá vỡ mọi hoà hợp nơi chính bản thân
cũng như đối với những người khác và với mọi loài thụ tạo”[5].
Do đó, phương thế chống lại sự dữ của người Kitô hữu không có cách nào
khác ngoài chính cách nhận thức theo gương Chúa Giêsu đã sống, đã hành
động.
Người Kitô hữu cũng luôn ý thức rằng, bổn phận của họ là xây dựng một
cộng đồng nhân loại tình thương, loại trừ những chia rẽ hận thù. Một xã
hội công bằng, bác ái, biết chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau trong tình huynh
đệ, đó là lý tưởng và bổn phận trách nhiệm của mỗi người Kitô hữu. Hơn
nữa, người Kitô hữu phải chống trả với sự dữ bằng hành động yêu thương,
tha thứ và đón nhận chứ không chạy trốn nó. Nếu người Kitô hữu sống và
hành động theo gương Đức Kitô là yêu và tha thứ thì sự dữ đã bị quyền
lực tình yêu khống chế, như thánh Phaolô hoàn toàn xác tín khi nhấn mạnh
rằng: “Ai sẽ tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Kitô? Gian nan,
khốn khó, bắt bớ, đói khát, trần truồng, hiểm nguy hay gươm giáo ư?
Không, nhờ Đấng yêu thương mình, chúng ta thắng được tất cả những điều
này”[6]. Bởi thế, cách thế để chiến thắng sự dữ là hãy lớn lên trong
tình yêu của Chúa Cha, Đấng đã mạc khải mình cho chúng ta nơi Chúa Giêsu
Kitô.
KẾT LUẬN
Đứng trước mầu nhiệm sự dữ, mọi giải đáp của con người đều tỏ ra bất
lực. Dù là triết gia hay thần học gia cũng không làm được gì hơn khi
đứng trước mầu nhiệm sự dữ. Từ nay con người chỉ biết im lặng, một sự
im lặng đáng sợ trước quyền lực sự dữ và không còn một biện minh hay lý
giải nào cho sự dữ, vì mọi sự biện minh và lý giải không đem lại một sự
thỏa đáng nào cho con người.
Vậy phải chăng con người đành bất lực đứng nhìn trước quyền lực sự dữ
hoặc là tìm đủ mọi cách để trốn chạy chúng? Có lẽ một số người thì như
vậy, họ cho rằng “tẩu vi là thượng sách”. Nhưng đối với người Kitô hữu,
là những người tin vào Thiên Chúa, tin vào quyền năng, tình thương và
quan phòng của Ngài, họ không chạy trốn mà luôn đón nhận sự dữ nếu nó
xảy tới. Bản thân người Kitô hữu không đẩy lui được sự dữ. Đấng quyền
năng ấy là chính Đức Kitô, Ngài chính là trung tâm của niềm tin, là nền
tảng cho đời sống của người Kitô hữu. Khi đứng trước sự dữ, người không
có đức tin có thể chối bỏ Thiên Chúa, vì họ cho rằng Thiên Chúa ác tâm
để cho sự dữ xảy ra gây bao đau khổ cho con người; nhưng đối với người
Kitô hữu, họ nhận thấy nơi những biến cố đau khổ của con người có Thiên
Chúa đang cùng đồng hành và chia sẻ với họ. Đó là niềm hạnh phúc của
người Kitô hữu mà người không có đức tin không có được điều đó.
*********
Tài liệu tham khảo
· Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước, Bản dịch của Nguyễn Thế Thuấn
· Vatican II, Hiến Chế vui mừng và hy vọng
· Gioan Phaolô II, Thông điệp Tin mừng về Sự sống
· H. Bergson, Les Deux Souces de la Morale et de la Religion, Alcan, 1932,
· É. Borne, Le Problème du Mal, Paris, Puf 1958
· Đa Minh Thiện Bản, Vấn Đề Đau Khổ, 20 Bùi Chu, Sài Gòn, 1969
· Giuse Đinh Thanh Bình, Lạy Chúa! Tại sao Ngài im lặng? Tủ sách Dân Chúa, 1995
· L. Lavelle, Le Mal et La Souffrance, Paris, Plon, 1940
· Lê Tôn Nghiêm, Socrate, Ca dao
· Daniel Liderbach, Why do we suffer? St. Pauls Philippines, 1994
· Dominique Morin, Gọi tên Thượng Đế, tủ sách chuyên đề
· Nhân văn luận thần học qua các tác giả (dịch theo: Anthropologie), Nguyễn Văn Hòa chuyển ngữ.
· Trần Hữu Phương, Giáo trình "Nhân học và Kitô giáo"
· Sáng thế luận qua các tác giả, Nguyễn Văn Hòa chuyển ngữ.
· Tại sao Chúa để sự dữ xảy ra ? (VietCatholic News, 15/9/2001).
· Trịnh Ngọc Sương, Những lý thuyết về Sự Ác, bản Rônêô.
· The Twentieth Centuty Encyclopedia of Catholism, “The Problem of Evil” Vol. 20.
· Tại sao Chúa để sự dữ xảy ra ? (VietCatholic News, 15/9/2001).
· Trịnh Ngọc Sương, Những lý thuyết về Sự Ác, bản Rônêô.
· The Twentieth Centuty Encyclopedia of Catholism, “The Problem of Evil” Vol. 20.
--------------
[1] Sứ điệp của Công Đồng Vaticanô II
[2] Trần Hữu Phương. Giáo trình Nhân học Kitô giáo-Quyền lực sự dữ, tr 12-13.
[3] Rm 7,19
[4] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ, số 22.
[5] Sđd, số 13.
[6] Rm 8, 35-37.
SỰ DỮ, MỘT VẤN ĐỀ NAN GIẢI (Phần IV)
2/21/2015 08:06:00 AM |
Phần 4. HÓA GIẢI SỰ DỮ DƯỚI LĂNG KÍNH KITÔ GIÁO
Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là
của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu
và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô và không có gì thực sự là của con
người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ[1].
Do đó Giáo Hội có trách nhiệm đem đến cho con người lời giải đáp về sự dữ. Lời giải đáp đó vừa là lý thuyết vừa là hành động.
Tuy nhiên Giáo Hội không chỉ có bổn phận lý giải và đưa ra những giải
pháp cụ thể đối với sự dữ, nhưng còn phải minh chứng về niềm tin của
mình vào Thiên Chúa. Đó là một Thiên Chúa nhân ái, toàn năng, toàn
thiện. Thiên Chúa nhân ái đã tạo dựng nên con người. Trước biết bao tai
ương, khổ đau của cuộc sống, con người đã không ngừng đặt ra những vấn
nạn: nếu Thiên Chúa nhân ái tại sao Người lại để con người đau khổ? Nhìn
vào thực tế, khi mà con người dù ở bất cứ nơi đâu, ở địa vị nào, người
ta đều có thể thấy được ít nhiều sự đau khổ của họ. Đau khổ là một thảm
kịch bi đát nặng nề đối với những người đang sống trong cảnh chiến
tranh, bệnh tật, mất mùa, đói khát và nhất là khi những nạn nhân đó là
trẻ em. Còn Thiên Chúa toàn năng ư? Vậy tại sao Ngài lại không loại trừ
sự dữ mà cứ để nó tự do hành hạ nhân loại “là hình ảnh của Thiên Chúa”?
Thiên Chúa đã dựng nên con người và trao ban cho con người khả năng cao
quý nhất và cũng nguy hiểm nhất, đó là sự tự do. Tự do tự nó không tốt
cũng không xấu. Nó tốt khi con người biết dùng nó để làm những việc tốt
lành và xấu khi nó bị sử dụng để làm những điều xấu. Ta có thể so sánh
cách loại suy về tự do, nó có thể được ví như một con dao. Trong tay
người nội trợ, con dao sẽ góp phần làm nên những bữa ăn ngon lành; trong
tay người khắc tượng, nó góp công làm ra những tác phẩm đẹp, có giá
trị; nhưng khi con dao ở trong tay kẻ cướp, một kẻ giết người, nó sẽ là
hung khí gây án. Trong mọi trường hợp, dù để làm nên điều tốt hay điều
xấu, con dao nó không thể bị gọi là tốt hay xấu, nó chỉ tốt hay xấu là
do mục đích của người sử dụng. Tự nó cũng thế, chính do hành động chọn
lựa của con người sẽ đưa đến kết quả tốt hay xấu. Chính chủ nghĩa cá
nhân sẽ làm biến dạng giá trị cao quý của tự do. Tự do “là một ân huệ
lớn lao của Đấng Tạo Hoá bởi vì sự tự do được dùng để phục vụ con người
và hoàn thành con người do chính việc tự hiến và tiếp nhận tha nhân;
trái lại, khi chiều kích cá nhân chủ nghĩa được tuyệt đối hoá, thì tự do
sẽ mất đi ý nghĩa đầu tiên của nó, rồi chính ơn gọi và phẩm giá của nó
cũng bị chối bỏ”[2]
Tự do vốn là khát vọng cơ bản của con người. Tự do cũng là phạm trù đa
diện nhất trong ngôn ngữ loài người. Ai cũng tranh đấu cho sự tự do, ai
cũng tự hào mình có tự do và có lẽ mỗi người hiểu tự do theo một nghĩa
riêng biệt. Nói đến tự do, dĩ nhiên con người phải nghĩ đến bao nhiêu
thứ tự do: tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do của ý muốn, tự do
chính trị và xã hội… Lịch sử nhân loại là lịch sử của những cuộc đấu
tranh giành tự do về nhiều mặt. Con người mất tự do khi những quyền cơ
bản của con người không được tôn trọng hoặc bị chà đạp.
Đối với Đức Giêsu, Ngài không gọi hành động tự hủy hay tội lỗi là hành
động tự do, mà là nô lệ. “Hễ ai phạm tội, người đó làm nô lệ”. Tội lỗi
là hình thức nô lệ nền tảng nhất dẫn đến mọi thứ nô lệ khác.
Như vậy, sự thật cơ bản mà Đức Giêsu muốn con người nhận biết, đó là sự
thật về tội lỗi của con người. Sự thật về tình trạng nô lệ mà con người
đang bị trói buộc vào. Muốn hiểu thế nào là tự do, dĩ nhiên con người
phải biết thế nào là tội. Nhưng bản tính kiêu ngạo và cố hữu, con người
rơi vào tình trạng mù quáng, không nhận ra tình trạng nô lệ của mình.
2. Nguồn gốc và tình trạng sự dữ được ghi lại trong Kinh Thánh
Khi con người có ý thức, suy nghĩ về chính bản thân và những gì mình có
hay nhất là lúc con người biết có hạnh phúc và đau khổ. Các tác giả viết
Thánh Kinh theo thời kỳ và văn hoá đặc thù của mình, cũng đã có những
cách trình bày, lý giải về sự dữ. Tất nhiên, quan điểm của họ về sự dữ
là quan điểm tôn giáo chứ không đơn thuần là triết lý hay khoa học
a. Theo Cựu Ước
Ngay từ những chương đầu của sách sáng thế, Kinh Thánh đã nói về sự dữ,
về đau khổ của con người. Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh
của Người và ban cho con người một đời sống hạnh phúc trọn vẹn. Thế
nhưng, do chính sự tự do lựa chọn của mình, con người đã không vâng phục
lệnh truyền của Thiên Chúa khi ăn trái cấm, để rồi phải nhận lấy biết
bao nhiêu tai ương. Như thế, ngay từ đầu, Kinh Thánh cho thấy sự dữ xảy
đến là do con người muốn tự mình định đoạt về cuộc đời mình, muốn loại
trừ chủ quyền của Thiên Chúa nơi đời mình. Sự dữ đã có mặt vì con người
đã phá đổ tương quan thân nghĩa của mình với Thiên Chúa. Từ đó, tương
quan giữa con người với nhau và với mọi loài thụ tạo khác đã trở nên
khắc nghiệt đối với con người.
Đó là theo sách Sáng Thế, còn theo một số vài tác giả sách ngôn sứ, thì
sự dữ, với mọi hình thức khác nhau mang tính trừng phạt, răn dạy, thử
thách của Thiên Chúa dành cho những ai bất trung với Người, hay cho
những người được Thiên Chúa yêu thương với mục đích muốn thử thách lòng
tin của họ.
Con cái Israel đã làm sự dữ trước mắt Yavê và họ đã phụng thờ các thần
Baal. Họ đã bỏ Yavê, Thiên Chúa của cha ông họ, Đấng đã đưa họ ra khỏi
đất Ai-cập. Họ đã theo các thần khác thuộc hạng thần của các dân ở xung
quanh họ; họ đã thờ lạy chúng và chọc tức Yavê và phụng sự Baal và các
Astartê. Và nộ khí Yavê bốc cháy trên Israel, Người phó nộp họ trong tay
quân cướp và chúng đã cướp bóc họ; Người đã bán họ trong tay thù địch
xung quanh và họ đã không thể cự lại được trước mắt địch thù[3].
Chúng đã chối bỏ Yavê, chúng nói: “Người không có trên ta, tai hoạ sẽ
tràn đến, hoạn lạc đói kém ta sẽ không hề phải thấy! Các tiên tri? Chúng
khờ đấy thôi, nơi họ, sấm ngôn chẳng có!”. Cho nên, Yavê Thiên Chúa các
cơ binh phán thế này: vạ đó sẽ xảy đến trên chúng vì chúng đã nói ra
lời ấy, thì này nơi miệng ngươi, Ta đặt các lời ta làm lửa, dân ấy là
củi và lửa sẽ thiêu chúng[4].
Tuy nhiên, dù có những lý giải tích cực hay tiêu cực, Cựu Ước vẫn bị bế
tắc trong việc tìm ra một lý giải thoả đáng cho vấn nạn sự dữ, nhất là
đối với cái chết. Lời lý giải thoả đáng nhất chỉ có nơi Đức Giêsu.
b. Tân Ước
Trước lập trường cổ điển: đau khổ, bệnh tật là hình phạt của Thiên Chúa
đối với người tội lỗi. Chúa Giêsu đã mạnh mẽ bác bỏ. Theo Người, đó
không phải hình phạt mà là điều kiện để “công việc của Thiên Chúa được
tỏ hiện”. Chúa Giêsu đã biểu lộ tình thương của Người đối với đau khổ
của con người và đã trợ giúp họ: Người đã chữa lành nhiều bệnh tật, làm
cho người chết sống lại… hành động đó của Đức Giêsu không chỉ đơn thuần
nói lên tình yêu của Người đối với nhân loại trong mọi hoàn cảnh sống
của họ mà còn biểu lộ quyền năng của Thiên Chúa: Thiên Chúa sẽ chiến
thắng sự dữ, ngay cả sự dữ lớn lao nhất là cái chết.
Trong niềm tin vào Chúa Giêsu phục sinh, các tông đồ và Giáo Hội không
cho rằng sự dữ là một án phạt nữa, nhưng nó đã trở nên phương thế để con
người được nên một với Chúa Giêsu và đạt được vinh quang mà Thiên Chúa
dành cho những ai trung tín với Người.
Thần Khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa; mà
nếu là con thì cũng là kẻ thừa tự, thừa tự của Thiên Chúa, đồng thừa tự
với Đức Kitô, một khi ta cùng chịu cam khổ (với Ngài), để rồi cùng chia
phần vinh phúc (với Ngài). Quả thế, tôi quyết rằng những đau khổ đời này
không đáng là gì, so với vinh quang hằng tỏ hiện trên ta[5].
3. Thiên Chúa quan phòng theo định luật tự nhiên
Dưới thời Cựu Ước và Tân Ước, người ta rất tin tưởng ở những phép lạ mà
Thiên Chúa đã làm vì dân người. Ngài đã ngăn đôi biển đỏ cho dân bước
qua, đã điều khiển mưa xuống tưới mát mùa màng theo lời cầu nguyện của
một người công chính. Chúa Giêsu đã làm nhiều phép lạ: hoá nước thành
rượu, người mù được thấy, kẻ điếc được nghe, bệnh tật bị đẩy lui, Lazarô
sống lại từ cõi chết. Tất cả những biến cố lạ thường Chúa đã thực hiện
minh chứng rằng Thiên Chúa yêu thương và săn sóc cho dân Người. Ngài sẵn
sàng thay đổi và cản ngăn những định luật thiên nhiên và tự nhiên để
cứu độ nhân loại.
Thế kỷ hai mươi mốt, với sự phát triển chóng mặt của khoa học kỹ thuật
và công nghệ, người ta không chỉ còn tin tưởng những phép lạ theo kiểu
ngày xưa. Sự hiện hữu của Thiên Chúa được minh chứng, không phải bằng
nhiều phép lạ trái luật tự nhiên, nhưng qua những định luật tự nhiên và
thiên nhiên không hề thay đổi. Ngày xưa, nhân loại tin Chúa qua những sự
kiện lạ thường, ngày nay chúng ta tin Chúa qua những sự kiện rất bình
thường tự nhiên. Có nhiều khoa học gia phải chấp nhận có một bàn tay
nhiệm mầu của Thiên Chúa can thiệp. Bởi vì họ đã thấy Ngài qua việc tạo
dựng một vũ trụ trật tự, với những quỹ đạo, những xoay vòng chuyển động,
tiếp diễn trong một khuôn khổ định sẵn. Trái đất, với định luật
thiên-tự-nhiên rất đáng tin cậy, những mầm sống phải vươn lên khi hạt
giống được chôn vùi xuống đất, khí hậu thay đổi bốn mùa căn bản, mùa
xuân hoa nở, mùa thu lá rụng, mùa đông lạnh lẽo, mùa hạ nắng ấm; những
thế hệ con người tiếp nối, bình minh và hoàng hôn mặt trời lên xuống mỗi
ngày. Thân xác con người cũng là những phép lạ, không phải vì nó đã
vâng lời tuyệt đối luật tự nhiên. Đôi mắt phải nheo lại khi nắng gắt,
bàn tay phải rụt về lúc đụng phải bàn ủi nóng. Những sự kiện phi thường
vẫn xảy ra hàng ngày theo định luật tự nhiên chính là những phép lạ tỏ
tường nhất của Thiên Chúa.
4. Chấp nhận định luật thiên tự nhiên
Tuy vậy, nếu những định luật thiên tự nhiên không thay đổi đã giúp ích
rất nhiều cho đời sống, thì cũng chính nó có thể gây ra một số vấn nạn
đáng tiếc. Sức hút trái đất rất cần thiết để con người có thể xây dựng
nhà cửa, trồng trọt cây trái, chăn nuôi gia súc an cư lạc nghiệp. Không
có hấp lực đó, chúng ta suốt ngày nhởn nhơ trong không gian. Tuy thế,
nếu sức hút trái đất làm mọi vật từ trên cao rơi xuống, thì đôi khi nó
đã rơi xuống đầu một người, đôi khi nó là nguyên nhân của những cái chết
tự tử từ lầu cao nhảy xuống, từ biển sâu dìm dần. Chúng ta mong mỏi một
ngày nắng ấm đẹp trời, nhưng cũng chính ánh nắng ấy đã thiêu đốt kẻ lữ
hành đơn độc dặm trường giữa cơn khát sa mạc. Những hạt mưa là những
viên ngọc trời ban khi mùa màng hạn hán, nhưng mưa gió phũ phàng cũng là
nguyên nhân của lũ lụt bão táp cuốn trôi tất cả. Chúng ta không thể
sống nếu không có hấp lực trái đất, không có nắng mưa, bởi vậy, chúng ta
đành phải chấp nhận những hiểm nguy mà nó có thể gây ra. Tuy nhiên
chúng ta cũng có thể ngăn cản được phần nào thiên tai gây ra nếu chúng
ta giữ gìn và bảo vệ môi trường lành mạnh. Về bệnh tật cũng vậy, ngành y
học có thể đẩy lùi nhiều căn bệnh trầm kha.
5. Tất cả đều bị chi phối, không có luật trừ dành riêng cho bất cứ ai
Định luật tự nhiên, rất tiếc, không có luật trừ dành riêng cho những
người lương thiện. Nếu mọi người đều được lãnh nhận những lợi ích của
nó, thì mọi người đều phải chịu đựng những bất lợi nó đã gây ra. Nếu ai
sống trong một căn nhà đang có bệnh dịch, người đó có thể bị lây, không
cần biết họ là ai, vua chúa hay thường dân, người lương thiện hay kẻ
gian ác, vi trùng dịch tả không biết phân biệt. Từ lúc viên đạn rời khỏi
nòng súng, định luật tự nhiên sẽ dẫn dắt nó bay thẳng theo hướng nhắm
bắn của tên sát nhân, Lee Harvey Oswald, để trúng đầu cố tổng thống Mỹ
John Kennedy. Định luật tự nhiên không cần biết Kennedy, Ngô Đình Diệm
là ai, không cần lưỡng lự xem cái chết của họ nên hay không nên, không
cần biết lịch sử thay đổi như thế nào nếu họ còn sống.
6. Thiên Chúa phải tôn trọng định luật tự nhiên
Định luật tự nhiên chi phối toàn thể nhân loại, ai cũng như ai, nó không
thể bảo vệ riêng người lương thiện. Một vụ khủng bố, một gã say rượu
lái xe đâm vào bất cứ người nào qua đường, vi trùng HIV/AIDS không biết
ai là người liều lĩnh khờ dại, ai là nạn nhân di truyền, nó cứ tỉnh bơ
xâm nhập khi thuận tiện. Đó là những lý do những người hiền lành vẫn có
thể gặp vô vàn tai họa khốn khó. Thiên Chúa đã sáng tạo định luật tự
nhiên, Ngài phải tôn trọng nó, Ngài không thể lúc nào cũng nhúng tay vào
để can thiệp những hành động của tự nhiên, dù là thiên tai khổ ải. Bởi
thế, Thiên Chúa không phải là nguyên nhân của những tai ương đau khổ và
Ngài cũng không thể ngăn cản những tai họa đó đừng xảy ra được. Nếu
trách Ngài tại sao đã sáng tạo định luật tự nhiên, thì cũng giống như
chúng ta lên án những phát minh của con người: giá như đừng có điện thì
con tôi không bị giật, giá như đừng có computer games thì tôi không thi
rớt. Chúng ta hãy nghĩ tới những ích lợi của điện năng và máy vi tính
điện tử.
7. Tại sao Thiên Chúa không ra tay ngăn cản?
Chắc chắn rằng Thiên Chúa dư quyền năng để can thiệp và cản ngăn tai
họa, nhưng chúng ta không hiểu đời sống của chúng ta sẽ thế nào nếu
chuyện gì Ngài cũng nhúng tay vào. Hãy tưởng tượng rằng Thiên Chúa cương
quyết bảo vệ tất cả những người lành thánh, nhất định sẽ không để họ
gặp phải bất cứ tai họa nào. Nếu kẻ sát nhân ám sát tổng thống, không
cần biết nó nhắm kỹ độ nào, Chúa sẽ như cao thủ võ lâm, búng tay làm
chệch đường viên đạn. Nếu máy bay hết xăng giữa phi vụ, Chúa sẽ biến
nước thành xăng để phi cơ đáp an toàn. Nếu những người con riêng thánh
thiện hiền lành của Chúa được cẩn thận che chở gìn giữ, còn những đứa
tội lỗi thì mặc kệ tụi nó ra sao cũng được, hỏi rằng thế giới ngày nay
với hai giai cấp cách biệt như vậy, sẽ trở nên tốt hơn hay tệ hơn? Hãy
giả sử như, tôi là một tín hữu ngoan đạo, trung tín giữ luật yêu thương
Thiên Chúa và tha nhân, và nhờ vậy, Ngài sẽ bảo vệ tôi tuyệt đối. Mùa
đông trời lạnh tôi nhong nhong cởi trần mà không bị bệnh, tôi đi qua
đường khi thiên hạ ào ạt phóng xe mà không bị tai nạn, chờ thang máy lâu
quá, tôi liền nhảy qua cửa sổ từ lầu thứ mười xuống đất mà vẫn bình
thường, súng đạn như mưa, bom nổ ầm ầm mà tôi vẫn cứ hiên ngang đi giữa
chiến tranh nhưng vẫn không hề hấn gì. Nếu thế giới có những người “con
ông cháu cha” được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi như thế, hỏi rằng chúng
ta còn muốn tôn thờ một Thiên Chúa ích kỷ thiên vị riêng tư như vậy hay
không?
Những thiên tai lũ lụt động đất, giết chết hàng triệu người vô tội không
thể là hành động sửa phạt của Thiên Chúa, nhưng chính là hành động của
định luật tự nhiên, nó không biết luân lý, đạo đức, nó chỉ tuân theo
luật lệ của riêng nó đã được sắp sẵn. Hành động của Thiên Chúa không
phải là thiên tai, nhưng chính là sự can đảm của những người xây dựng
lại những đổ vỡ do thiên tai gây nên và là những chia sẻ hăng say độ
lượng của những người vội vã cứu giúp từng nạn nhân đau khổ vì mất mát
tiền của, công sức mồ hôi nước mắt và ngay cả những người thân yêu đã
vĩnh viễn ra đi.
============
[1] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 1.
[2] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Tin Mừng về sự sống, số 19.
[3] Thp 2,11-15
[4] Yr 5,12-14
[5] Rm 8, 16-18
SỰ DỮ, MỘT VẤN ĐỀ NAN GIẢI (Phần III)
2/07/2015 08:04:00 AM |
Phần 3: HÓA GIẢI SỰ DỮ THEO THÁNH ÂU TINH, THÁNH I-RÊ-NÊ VÀ THÁNH THOMAS.
Bài này trình bày cách hóa giải sự Dữ của 3 vị thánh thuộc các thời đại khác nhau: Thánh Âu-Tinh thuộc thế kỷ thứ 4-5, Thánh I-rê-nê thế kỷ 2-3 và thánh Thomas Aquino, thế kỷ 13.
1. Hóa giải sự dữ theo thánh Âu Tinh và quan điểm loại suy thẩm mỹ (aesthetic analogy)
Cách hóa giải này được truyền thống Kitô giáo như các giáo phụ phương
Tây, những nhà thần học Trung cổ và nhiều học giả ngày nay cùng chia sẻ.
Thiên Chúa là Đấng toàn thiện. Thiện tính của Ngài được bộc lộ trong
hành vi sáng tạo, do đó mà mọi tạo vật đều có tính bản thiện. Tuy nhiên,
sự dữ cũng thực sự hiện hữu, nhưng chúng chỉ hiện hữu khi khiếm khuyết
sự thiện, như bóng tối xuất hiện khi thiếu ánh sáng. Người ta tự hỏi tại
sao Đấng Tạo Hóa không sáng tạo mọi sự ở cấp hoàn hảo nhất, không còn
chỗ cho những khiếm khuyết xen vào? Thánh nhân trả lời: Cần có nhiều
loại hữu thể được sáng tạo ở những cấp độ hoàn hảo khác nhau, nhờ đó sự
phong phú và vẻ huy hoàng càng nổi bật.
Trong tương quan với sự thiện mà sự dữ có ý nghĩa: Quan điểm loại suy
thẩm mỹ. Kinh nghiệm thực tế về thẩm mỹ cho hay sự tương phản thường làm
cho thực tại tăng thêm vẻ đẹp. Như trong một bản nhạc, đôi khi có những
nét nhạc không hoà điệu, một cách nào đó lại có thể làm cho toàn bộ bản
nhạc thêm tuyệt vời. Hoặc như những bức tranh của Rembrant, chúng nổi
tiếng là nhờ sử dụng kỹ thuật tương phản giữa ánh sáng và bóng tối. Vậy
nếu ta bị “sốc” bởi sự bất hoà của vũ trụ, đó là chúng ta không hiểu
được bản giao hưởng của vũ trụ trong tổng thể của nó. Sở dĩ một chi tiết
của một bức tranh làm chúng ta khó chịu, là vì chúng ta thiếu cái nhìn
tổng quan vốn đem lại ý nghĩa cho từng chi tiết. Tương tự, sự dữ làm
phát ra vẻ rực rỡ của điều thiện. Nó là phương thế cần thiết để đạt tới
sự hài hoà tuyệt mức của thế giới.
Chúng ta nên biết, sau này Leibniz cũng đã khai triển ý tưởng này để
biện minh cho Thiên Chúa: “Sự dữ không còn là sự dữ nữa, nếu nó là một
khoảnh khắc cần thiết trong tiến bộ của cả lịch sử nhân loại”.
Những khó khăn của cách hóa giải này:
Thật khó chấp nhận quan điểm sự dữ là phương thế cần thiết để đạt tới sự
hài hòa tuyệt mức của thế giới. Trước biến cố sát hại hàng triệu người
Do thái trong trại tập trung của Đức quốc xã, người ta tự hỏi làm thế
nào những kẻ như Hitler lại có thể dự phần vào sự hoàn hảo của thế giới?
Và làm sao có thể chấp nhận quan điểm chủ trương hy sinh các thế hệ
hiện tại, nếu cần, để giúp đạt tới những ngày mai tươi sáng? Đối với
chúng ta, con người là một giá trị tuyệt đối, không bao giờ là một
phương tiện, nên không bao giờ được phép coi con người như một bánh xe
trong một cỗ máy để có thể thay thế, hy sinh cho một tương lai mơ hồ.
Mỗi một thời điểm đều được Thiên Chúa coi trọng và không thể biện minh
cho những tiến bộ trong tương lai bằng cách lập luận rằng Thiên Chúa chủ
ý muốn sự đau khổ cho bất kỳ một người vô tội nào của ngày hôm nay. Do
đó, Dostoievski đã có lý khi nói qua miệng của một trong những người anh
em của Karamazov những lời này: “Ngay cả khi cái xưởng mênh mông này sẽ
mang lại những điều kỳ diệu tuyệt vời nhất, và điều đó chỉ phải trả
bằng một giọt lệ duy nhất của một đứa trẻ thì tôi cũng phản đối”.
Hơn nữa, người ta cũng khó chấp nhận lối nhìn của kẻ bàng quan, đứng
ngoài xem tranh. Thái độ đó không làm cho sự dữ mất đi, mà còn là cơ hội
cho sự dữ tăng gấp bội. Trong tác phẩm: “Hai nguồn tôn giáo và luân
lý”, Bergson đã nhận định: “Các triết gia vẫn hài lòng với những lập
luận kiểu đó một mình trong bàn giấy, nhưng họ sẽ nghĩ sao trước cảnh
một bà mẹ vừa mới chứng kiến con mình chết thảm khốc? Không, đau khổ là
một thực tại, có thể làm lu mờ khía cạnh Thiên Chúa quan tâm tới con
người cách cá vị hoặc tệ hại hơn có thể gây hiểu lầm: con người chỉ là
thành phần hay đơn vị có thể bị hy sinh vì lợi ích của tập thể một cách
tuỳ tiện.
2. Hóa giải sự dữ theo thánh Irênê
Cách hóa giải sự dữ theo thánh nhân sau này được các nhà thần học Đức,
Friedrich, Schleiermarcher và học giả người Anh, John Hick khai triển.
Lập trường cơ bản của ông là theo kế hoạch của Thiên Chúa, thế giới này
phải là môi trường phát triển của con người, ngõ hầu đạt tới tầm vóc
sung mãn ơn gọi làm con Thiên Chúa. Sự phát triển này đòi hỏi một tiến
trình lâu dài trong một môi trường thích hợp. Đó là môi trường hỗn hợp
giữa sự thiện và sự ác, giữa ánh sáng và bóng tối, nhờ đó con người có
thể vận dụng tự do của mình để thực hiện ơn gọi.
Sự hiện hữu của sự dữ luân lý
Nếu chỉ nhằm mục tiêu: sự thiện phải hiện hữu bằng bất cứ giá nào, Thiên
Chúa có thể trang bị cho thế giới này tràn đầy những người máy, được
lập trình hoàn hảo, chỉ biết làm điều thiện. Nhưng những rôbốt như thế
không bao giờ có thể phát triển tới tầm mức con cái tự do của Thiên
Chúa. Đạt tới ơn gọi làm con Thiên Chúa, tuỳ thuộc con người vận dụng
khả năng lựa chọn, đáp trả hay khước từ lời mời gọi của Thiên Chúa. Chỉ
trong tự do, con người mới có thể đi vào mối tương quan tình yêu với
Ngài. Đó là lý do biện minh tại sao Thiên Chúa cho phép sự dữ luân lý có
mặt trong thế giới này. Do đó, có thể nói, chính tự do phải chịu trách
nhiệm về sự dữ luân lý.
Nhưng với tư cách một Thiên Chúa toàn năng, Ngài vẫn có thể loại trừ mọi
sự dữ hay đau khổ chứ? Dĩ nhiên rồi. Vậy tại sao Ngài không làm thế?
Giả sử chúng ta sống trong một thế giới mà Thiên Chúa không ngừng can
thiệp để loại trừ bất cứ sự dữ hay đau khổ nào khỏi cuộc sống con người
thì, một sự can thiệp như thế sẽ đồng nghĩa với việc phải loại bỏ mọi
luật lệ thiên nhiên. Chẳng hạn, Thiên Chúa luôn phải làm cho sức nóng
của ngọn lửa đang có nguy cơ đốt cháy người hay vật trở thành vô hiệu,
hay phải thay đổi bản chất của nước đang có nguy cơ nhận chìm con người
và thiên nhiên. Một sự can thiệp như thế khiến cho thế giới này không
còn khả năng tiên liệu, do đó khoa học và kỹ thuật cũng không còn cơ may
phát triển. Đàng khác, một sự can thiệp như thế khiến thế giới này
không còn những thách đố phải vượt qua, không còn những vấn đề phải giải
quyết, như vậy cũng làm tiêu tan ý nghĩa cuộc sống: Tính cách luân lý
không còn cơ hội phát triển, tình thương không còn môi trường để bộc lộ.
Không còn chỗ cho sự tự hiến. Ơn gọi làm con Thiên Chúa thể hiện trong
mối tương quan tình yêu không thể thành hiện thực. Nhìn dưới những góc
độ này, những thử thách và đau khổ có thể có những giá trị tích cực.
Những khó khăn của cách hoá giải này
Tính hấp dẫn của khảo hướng này không có thể phủ nhận. Thực vậy, những
thử thách và đau khổ về thể lý lẫn tinh thần có thể là trường đào luyện ý
chí của những tâm hồn cao cả. Nó có thể là cơ hội hay điều kiện để đạt
tới một sự thiện hảo lớn hơn. Tuy nhiên, trong thực tế, sự bất hạnh
thường làm cho con người đi chệch hướng hơn là làm cho nó chỗi dậy.
Trong nỗi bất hạnh, nếu họa chăng có được những cuộc chinh phục thì luôn
luôn chỉ là một phần nhỏ so với cái nền của sự thất bại. Nếu sự dữ có
mang lại lợi ích nào thì cũng phải trả giá bằng biết bao sự huỷ hoại. Vì
thế người ta tự hỏi: để trưởng thành, con người không còn phương pháp
nào khác hơn là đau khổ sao? Vì thế Maxscheler nói: rất có thể có thầy
dạy khác ngoài sự đau khổ giúp con người trưởng thành thật sự.
Đàng khác, quan điểm trên có thể mặc nhiên cho rằng Thiên Chúa trực tiếp
dính líu vào sự ác và đau khổ, làm cớ cho con người phủi tay trước
những sự ác mà nó gây ra.
3. Hóa giải sự dữ theo thánh Thomas
Cách hóa giải của thánh nhân nhằm biện minh rằng Thiên Chúa không phải
là tác giả sự dữ. Thánh nhân đã sử dụng những ý niệm siêu hình về hữu
thể để xây dựng lý thuyết của mình và trình bày vấn đề trong Tổng luận
thần học, phần I chương 48-49.
Theo ngài, sự dữ không phải là một tạo vật, mà sự thiếu sót hay khiếm
khuyết sự thiện trong bất cứ tạo vật nào. Như thế trên bình diện hiện
hữu đều tốt lành hay thiện hảo. Sự thiện là điều mọi người mong và không
có gì đáng ước mong nếu nó không hiện hữu. Có hiện hữu mới làm cho vật
khác yêu thích được. Vì thế, người ta chỉ nhận ra sự dữ trên bình diện
cách thế hiện hữu của nó mà thôi. Sự dữ được biết đến là do một hữu thể
nào đó thiếu hay khiếm khuyết một sự thiện nào đó, như bóng tối được
nhận biết là do thiếu ánh sáng. Tự nó, sự dữ không thể hiện hữu được.
Thánh Thomas định nghĩa sự dữ là thiếu hay khiếm khuyết một sự thiện hảo
nào đó đáng lẽ một vật phải có. Đôi mắt là sự thiện hảo phải có của con
người, nên người khiếm thị được coi là người bất hạnh. Thiếu điều thiện
hảo không thuộc về bản chất của mình thì không thể coi đó là sự dữ.
Thiếu đôi cánh không thể được coi là bất hạnh đối với con người. Khi
định nghĩa sự dữ là một thiếu sót hay khiếm khuyết trong tạo vật, thánh
nhân không hề muốn làm giảm nhẹ hiệu quả và tính bi đát của sự dữ. Hậu
quả của sự dữ vật lý cũng như luân lý thật tồi tệ, cần phải khuất phục
hay lên án.
Khi thánh nhân đề nghị lối phân tích có tính kỹ thuật như thế, ngài chỉ
muốn khẳng định: sự dữ không có bề dày hữu thể nào hết. Nên Thiên Chúa
không phải là tác giả sự dữ vì Ngài chỉ là nguyên nhân mọi hữu thể.
Tuy nhiên thánh nhân cho rằng sự dữ đôi khi cần cho sự hoà điệu của vũ
trụ. Về phương diện này Thiên Chúa có thể là nguyên nhân gián tiếp sinh
ra sự dữ vật lý. Muốn sinh tồn, các vật trong vũ trụ phải nương vào
nhau. Con người nuôi sống mình bằng những vật hạ cấp. Các vật khác cũng
vậy. Sự tác động qua lại này tạo nên sự quân bình sinh thái, được coi
như một thứ thiện hảo của vũ trụ. Song sự dữ vật lý không đúng nghĩa là
sự dữ.
Dẫu sao cách hóa giải sự dữ theo thánh Thomas nếu tránh được cho Thiên
Chúa trách nhiệm tạo ra sự dữ thì vẫn còn nguyên vấn đề đối với một
Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện. Thế nên trong tập dẫn nhập bình giải
về sách Gióp, ngài đã phải thú nhận: không gì khó hóa giải cho bằng
những đau khổ của người vô tội.
SỰ DỮ, MỘT VẤN ĐỀ NAN GIẢI (Phần II)
1/31/2015 08:02:00 AM |
Nguyễn Minh Sơn
PHẦN 2: NHỮNG NỖ LỰC HÓA GIẢI SỰ DỮ BẰNG HUYỀN THOẠI VÀ TRIẾT HỌC
Ngược với điều bấy lâu nay người ta vẫn tưởng, huyền thoại không hẳn là
những câu chuyện nho nhỏ dễ thương dành cho trẻ con. Qua những hình thức
rất đa dạng, những trình thuật có vẻ hoang đường này muốn mang đến một
lời giải thích cho các vấn đề căn bản của con người liên quan đến sự
hiện hữu của thế giới và của chính họ, chẳng hạn như những huyền thoại
về nguồn gốc con người, về tạo dựng, về sự dữ có mặt trong thế giới và
trong con người…
Bên ngoài những câu chuyện này (thời đại nào cũng có, kể cả thời đại
chúng ta ngày nay với những chuyện như “siêu nhân”,…) có vẻ ngây ngô và
trẻ con, nhưng kỳ thực chúng rất thú vị. Vì nếu không mang lại được một
lời giải đáp cho các vấn đề thì ít ra chúng cũng cung cấp được những chỉ
dẫn hết sức quan trọng về chính con người và những ước vọng của họ.
Điều đó đặc biệt thấy rõ nơi những trình thuật đề cập đến hai vấn đề:
sáng tạo và sự hiện hữu của sự dữ, của đau khổ.
Trong những huyền thoại liên hệ đến sự dữ, ta luôn tìm thấy những yếu tố
sau đây: Xưa kia, con người sống hạnh phúc với Thượng Đế hay với các
thần linh trong một thế giới lý tưởng và tuyệt diệu, nơi đó không hề có
sự dữ lẫn đau khổ và cái chết: đó là thiên đàng. Rồi sau đó vì nhiều lý
do, đã xảy ra một sự đoạn tuyệt giữa con người và Thượng Đế hay các vị
thần này. Từ đó sự hài hoà bị đổ vỡ. Cùng với sự đổ vỡ đó là sự xuất
hiện của đau khổ, đau đớn thể lý, sự dữ, nỗi âu lo sợ hãi, thời gian, sự
chết. Con người lúc nào cũng nhớ nhung cái thiên đàng đã mất đó và sống
trong hy vọng sẽ tìm lại được thiên đàng ấy để đến trú ẩn cho qua những
thực tế cay nghiệt và khó khăn của cuộc sống.
“Huyền thoại kể rằng vào buổi ban đầu có một thế giới khác với thế giới
này và một thời kỳ trước thời kỳ này, lúc đó mọi người đều rất hạnh
phúc, không bị đau đớn, không phạm sai lầm và không bị chết, nghĩa là
thoát khỏi sự dữ dưới mọi hình thức… Rồi đến giai đoạn sau… sự dữ thâm
nhập vào thế giới trên cao, có trước cuộc sống này… thần thánh giao
chiến với nhau; một số thiên thần biến thành ma quỷ và những hữu thể
siêu nhiên nhúng tay vào những đam mê và công việc của loài người, làm
cho sự dữ càng trở nên sâu sắc. Hai giai đoạn này, như một phản đề trong
các trình thuật huyền thoại, được thấy rõ nhất nơi các huyền thoại kể
về thiên đàng đã mất”[1]… và nơi những trình thuật Kinh thánh về sáng
tạo ở chương I và III sách Sáng Thế[2].
Nhưng dù có mang nhiều ý nghĩa đến đâu đi nữa, lối giải thích của huyền
thoại cũng khó làm ta thỏa mãn, vì thật ra nó không giải thích gì hết!
Đặc biệt là những huyền thoại đề cập đến vấn đề sự dữ. Đó là lý do tại
sao ta không dừng lại với các huyền thoại, như Thánh Kinh đã làm là sau
khi sử dụng các huyền thoại để “diễn tả điều không thể diễn tả được”,
Kinh Thánh đã mau mắn bỏ kiểu làm việc đó để dùng một cách khác đào sâu
những thực tại huyền nhiệm ấy, những thực tại dệt thành cuộc sống con
người. Vì thế con người đi tìm những hướng đi khác, đặc biệt là suy tư
triết học.
2. Suy tư triết học và vấn đề sự dữ
Thực tế, nhiều triết gia đều quan tâm đến vấn đề sự dữ. Dù cách thức
tiếp cận vấn đề có thể rất khác nhau nhưng (ngoại trừ thuyết Manikê có
vẻ là suy tư bằng sự giác ngộ hơn là bằng triết học thực sự) ta có thể
phân thành năm loại chính. Trước hết là những người cho rằng con người
phải tùng phục tất cả những gì xảy ra, bằng cách luôn giữ sự bình tâm
trước sự dữ và đau khổ, đây là thuyết khắc kỷ. Kế đến là những người
nghĩ rằng dù có sự dữ, đau khổ và sự chết, thế giới vẫn là một tổng thể
khá hài hòa, sự dữ và đau khổ chỉ là những thực tại mà ta phải đấu
tranh, điển hình như Héraclite và nhất là Leibniz. Trong khi có những
người không bằng lòng chỉ đấu tranh với chúng mà còn từ chối và lên
tiếng phản đối chúng, như Camus chẳng hạn. Và cuối cùng là trường phái
duy tâm và duy vật
a. Hãy gắng chịu những gì không phụ thuộc mình (thuyết khắc kỷ)
Vì ước ao tìm được sự nguôi dịu khi đứng trước sự dữ, đau đớn và thống
khổ, các triết gia Khắc kỷ đã tìm cách tuyên truyền cho thái độ tùng
phục nhiều hơn là giải thích sự dữ. Đối với họ, khôn ngoan là hãy chăm
lo phát triển những gì thuộc quyền mình và can đảm gánh chịu những điều
khác, đúng như lời chỉ bảo của Épitète, một trong những triết gia lớn
nhất của trường phái này: “chớ đòi hỏi những gì xảy ra như phải xảy ra,
và bạn sẽ được hạnh phúc”[3]. Ta cần phải làm chủ những ước muốn và đam
mê của mình, phải giữ bình thản, đặc biệt trước sự dữ và đau khổ, hầu
tìm được sự bình tâm thực sự; thái độ đó được tóm tắt trong khẩu hiệu
nổi tiếng sau đây của phái Khắc kỷ: “Sustine et abstine”, “chịu đựng
(những gì không phụ thuộc mình) và tránh bớt (các đam mê).
“Đứng trước sự dữ, phái Khắc kỷ có thể có hai thái độ đối nghịch. Một
đàng là thái độ của kẻ duy ý chí đôi khi tới mức kiêu ngạo: nghiến răng
lại để chứng tỏ mình vượt trên đau khổ, đàng khác là thái độ của người
cam chịu tới mức hết sức buồn tẻ”[4]
Thái độ triết học của phái khắc kỷ này đã có ảnh hưởng rất lớn trong
lịch sử tư tưởng Phương Tây, nhất là trong lịch sử Kitô giáo. Kitô giáo
thường có khuynh hướng lấy đó làm thái độ của mình… mà đôi khi quên rằng
điều đó ngược với Tin Mừng tận căn bản: Đức Giêsu không bao giờ rao
giảng một thái độ tùng phục hay cam chịu khi đứng trước sự dữ và đau
khổ, mà đúng hơn, Người đề nghị một sự phản kháng tích cực.
b. Dù bên ngoài thế nào, thế giới vẫn là một tổng thể hài hòa.
* Với Héraclite, thế kỷ V trước CN
Theo Héraclite, người ta thường chỉ nhìn một khía cạnh của sự vật, còn
nếu nhìn thực tại trong toàn bộ, họ sẽ thấy thế giới thật hài hòa. Thế
giới biến chuyển không ngừng và chính trong dòng sông bất tận đó luôn có
một sự đối kháng giữa thiện và ác. Nhưng trong những sự đối kháng luôn
luôn nảy sinh đó, cuối cùng rồi bao giờ cái thiện cũng thắng. Héraclite
quả quyết: “Thiện và ác rồi ra chỉ là một”[5]
Nếu đối chọi thiện và ác, đó là bởi chúng ta có cái nhìn quá chật hẹp và
cục bộ. Còn kỳ thật cả hai liên kết với nhau một cách hết sức hài hòa.
Hiểu như thế thì “lùi là báo trước tiến bộ, bất công là chuẩn bị cho
công bình, chết là tiên báo sự tái sinh. Hoàng hôn luôn luôn được thưởng
lại bằng bình minh”[6]. Tóm lại, sự thiện luôn luôn thắng[7].
* Với Leibniz, thế kỷ XVIII
Trong suốt dòng lịch sử, tư tưởng của Héraclite đều được lặp lại bằng
nhiều cách thức khác nhau. Đặc biệt hơn cả, vào thế kỷ XVIII, Leibniz
cũng muốn xoa dịu con người bằng cách làm cho Thượng Đế vô tội trong
việc này, đây cũng là điều quan trọng nhất đối với Leibniz. Và cũng là
toàn bộ nội dung “thần lý học” của ông. Để được thế, ông đặt sự dữ vào
trong trật tự của vũ trụ.
Trước hết, Leibniz không chối bỏ sự dữ là một thực tại bi thảm. Ông nhấn
mạnh nếu sự dữ hiện hữu thì đó là vì Thượng Đế không thể tạo dựng một
thế giới hoàn hảo được. Bằng không, Người sẽ tự mâu thuẫn, vì tạo dựng
một thế giới thật hoàn hảo, chẳng khác nào biến thế giới ấy thành một
Thượng Đế khác, như thế là vô lý vì Thượng Đế chỉ có một. Không thể đồng
thời có hai sự hoàn hảo tuyệt đối, hay nói cách khác, không thể cùng
lúc có hai Thượng Đế.
Vì được tạo dựng nên thế giới nhất thiết phải có giới hạn và vì thế tất
nhiên phải có sự dữ trong thế giới đó. Tuy nhiên, trong tất cả những thế
giới tốt nhất mà Người đã chọn. Thế giới mà Người đã chọn để tạo dựng
ắt phải có nhiều sự thiện nhất và ít sự dữ nhất. Thượng đế đã có thể tạo
dựng một thế giới không có Nêrô, vị hoàng đế La mã nổi danh là “bạo
chúa khát máu”, nhưng Người đã không làm như vậy, có thể là vì một thế
giới không có Nêrô ắt sẽ có những bất toàn khác, những sự dữ khác còn
trầm trọng hơn những bất toàn và những sự dữ đã xuất hiện vì có ông.
Đối với Leibniz, lấy lại ý tưởng của Héraclite, vấn đề vẫn là do con
người ta chỉ thấy một phần của thực tại. Nếu thấy được thực tại trong
toàn bộ của nó, ta sẽ nhận ra rốt cục tổng thể vẫn luôn luôn hài hòa, sự
thiện vẫn luôn luôn thắng. Sự dữ cần có trong thế giới như những khoảng
tối trong một bức tranh cần để làm nổi bật những chỗ sáng, hoặc những
hợp âm chói tai đã được khéo léo đưa vào một hài hòa của một bản giao
hưởng. Sự dữ đáng sợ và kinh khủng thật, nhưng chấp nhận nó thì sẽ tránh
được những sự dữ tệ hơn, cũng như sẽ hướng ta đến sự thiện.
Lẽ đương nhiên lập luận này không thỏa đáng. Chẳng những không thỏa đáng
vì không biện minh được cho sự vô tội của Thượng Đế, mà còn là “một
xì–căng–đan đúng nghĩa” đối với những đau khổ hết sức thật và cụ thể do
sự dữ gây lên. Sự dữ luôn luôn là sự dữ và không bao giờ có thể biện
minh cho nó dù bằng cách nào. Vì thế, lối giải thích này cần phải bị gạt
bỏ hẳn.
c. Phản kháng
* Với Albert Camus
Thái độ phản đối một cách tự nhiên và bình thường khi đứng trước sự dữ
là thái độ của đại đa số các triết gia, đặc biệt của đông đảo triết gia
Kitô giáo. Có một triết gia vô thần diễn tả thái độ ấy một cách khác đặc
biệt là Albert Camus.
Trực giác cơ bản của Camus là trực giác về tính bi đát của cuộc đời, mà
biểu hiện đau đớn nhất là nỗi đau khổ của trẻ em, một hình ảnh man rợ
nhất của sự dữ. Đối với ông, đó chính là chứng cớ Thượng Đế không có. Sự
dữ và Thượng Đế là hai điều mâu thuẫn nhau.
Tuy nhiên, đối với Camus, không phải vì đâu đâu cũng có sự dữ mà ta chấp
nhận thái độ thoái thác hay tệ hơn, ta tự sát, ngay cả khi ta thấy đau
khổ và chết chóc (vì là sự dữ) thật là phi lý[8]. Ngược lại, chính vì sự
dữ có mặt khắp nơi mà “con người phản loạn” của ta càng phải nỗ lực hơn
để không ngừng tiêu diệt nó.
Đứng trước sự dữ, chẳng những không chút thối chí mà với một sự sáng
suốt, con người chỉ có một thái độ duy nhất là chống đối và nỗ lực không
ngừng làm giảm những bất công cũng như những đau khổ xung quanh mình,
theo gương Sisyphe, một nhân vật truyền thuyết của thần thoại Hy lạp, bị
các thần linh kết án phải vác một tảng đá to lớn lên đỉnh núi nhưng cứ
mỗi lần leo tới nơi tảng đá ấy lại rơi xuống[9].
Camus hẳn cũng biết rằng cả khi con người xóa sạch hết được mọi sự dữ do
mình gây ra, vẫn luôn còn những đau khổ do chính thân phận bị giới hạn
và vô thường của mình. Như thế, cho dù y khoa có tiến bộ kỳ diệu tới
đâu, con người cũng không bao giờ tránh khỏi bị thương tổn về thể lý và
tâm lý. Do đó phải đương đầu với bệnh tật và cái chết là điều không thể
tránh được và không bao giờ tránh hết được. “Con người có thể làm chủ
nơi mình tất cả những gì cần được làm chủ. Họ phải tu sửa trong vũ trụ
này tất cả những gì có thể tu sửa được. Nhưng sau đó, cả trong những xã
hội hoàn bị nhất, trẻ con vẫn luôn luôn phải chết một cách bất công… Bất
công và đau khổ vẫn còn mãi, và dù có bị hạn chế được đến đâu, chúng
vẫn mãi là một xì-căng-đan”[10]
Nói thế có nghĩa là ta không bao giờ được từ bỏ đấu tranh chống lại đau
khổ và sự dữ. Cuộc chiến này, đặc biệt là cuộc đấu tranh dai dẳng để bảo
vệ những người nghèo khổ và hèn hạ nhất, đòi ta phải có một “tấm lòng
quảng đại đến điên cuồng” và một “tình yêu đến lạ lùng”. “Vinh dự của
con người là không tính toán gì hết, là phân phát hết cho cuộc sống hiện
tại và cho những anh em đang sống… Chính qua đó, cuộc sống nổi loạn của
chúng ta sẽ làm chứng rằng nổi loạn là chính sự sống đang chuyển động,
không thể sống mà phủ nhận cuộc nổi loạn ấy… Sống là phải sinh sôi triển
nở hoặc chẳng phải sống nữa”[11]
Camus cho rằng người Kitô hữu cũng có phần trong cuộc chiến đấu chống
lại sự dữ. Đứng trước sự dữ, dù niềm tin của mỗi người mỗi khác, nhưng
không gì có thể biện minh được cho thái độ thoái thác trách nhiệm. Trong
lúc trao đổi với các tu sĩ Dòng Đa Minh ở Latour-Maubourg, Camus tuy
thẳng thắn nhìn nhận rằng mình không có cùng một niềm tin hy vọng như
họ, nhưng vẫn khẳng định: “Tôi với các ngài cùng có chung nỗi kinh hoàng
về sự dữ”. Rồi sau đó, ông quả quyết chính vì đức tin của mình, các
Kitô hữu không thể tự cho phép mình miễn tham gia vào cuộc chiến đấu
này.
“Các bạn mà không giúp chúng tôi đấu tranh thì còn ai nữa trên thế giới
này”[12]? Đại đa số tín hữu không ngừng hưởng ứng lời kêu gọi bi thương
ấy của Camus (may mắn thay không chỉ có các tín hữu!) và điều đó hoàn
toàn phù hợp với Tin Mừng. Họ làm điều đó nhân danh chính niềm cậy trông
của mình, để góp phần hữu hiệu nhất vào cuộc đấu tranh dai dẳng chống
lại sự dữ. Đứng trước sự dữ khó chịu ấy, các Kitô hữu chỉ có thái độ
tích cực duy nhất, là cực lực chống lại và tìm cách hành động để loại
trừ chúng.
Điều duy nhất họ không đồng ý với Camus là Camus đã vì sự dữ mà kết luận
thế giới này là phi lý và Thượng Đế không hiện hữu. Đành rằng đối với
họ cũng như đối với Camus, dù có nỗ lực bao nhiêu để giải thích, huyền
nhiệm sự dữ vẫn cứ còn đó với tất cả nét bi thương và khôn dò của nó.
Tuy nhiên không phải vì thế mà họ sẽ chối từ Thượng Đế.
* Với duy tâm thuyết
Nhãn quan duy tâm cho rằng chỉ từ khi có ý thức, con người mới nói đến
sự dữ và đau khổ. Vật chất không biết đến đau khổ. Một cuộc động đất tự
nó không tốt cũng không xấu. Đó chỉ là hiện tượng vận động của trái đất.
Nó chỉ trở thành sự dữ khi đối diện với ý thức con người, thông qua
những tàn phá nó gây nên. Do đó, họ giản lược sự dữ thành một sản phẩm
thuần tuý của ý thức và từ đó cũng hoá giải sự dữ bằng ý thức. Nếu đau
khổ là của ý thức, thì ý thức cũng có khả năng vô hiệu hóa đau khổ bằng
cách coi nó như không có hoặc điều chỉnh ý thức cho ăn khớp với môi
trường hay hoàn cảnh chung quanh.
* Với Khắc Kỷ thuyết
Đối với khuynh hướng khắc kỷ (stocism) vốn cho rằng thông qua ý thức,
con người có thể đạt tới hạnh phúc. Họ cho rằng không có sự dữ tự thân,
chỉ có sự dữ do một cách nhìn, một thái độ nào đó của con người.
Những giai thoại chung quanh các triết gia khắc kỷ thường nói lên điều
đó, như giai thoại về Épictète, nô lệ của Êpaphrodite. Một hôm
Êpaphrodite đùa giỡn bằng cách vặn chân Épictète thì Épictète lạnh lùng
bảo trước người chủ: “Nếu cứ tiếp tục, ông sẽ làm gãy chân tôi đấy”.
Người chủ càng bẻ mạnh hơn và làm gãy chân Épictète thật, nhưng Épictète
vẫn thản nhiên nói: “Tôi đã bảo mà”.
Còn Chrysippe thì cho rằng: cần điều chỉnh ý thức mình cho ăn khớp với
thiên nhiên, với môi trường và hoàn cảnh là hết vấn đề: khi sắp làm gì,
bạn hãy nghĩ tới điều bạn sẽ làm. Chẳng hạn bạn đi tới hồ bơi thì hình
dung sẵn những gì thường xảy ra tại đó, như có thể họ ném bạn xuống
nước, nhận chìm bạn, ăn cắp đồ của bạn… Bạn sẽ vững tâm hơn khi tới đó
nếu bạn tự nhủ rằng tôi muốn bơi, nhưng tôi cũng muốn giữ ý chí tôi phù
hợp với thiên nhiên và hoàn cảnh. Và bạn sẽ không đạt tới điều ấy nếu
bạn bực bội vì những chuyện xảy đến.
Tuy nhiên, thực tế nhiều khi không phải ý thức tiêu hao được sự dữ, mà chính sự dữ có khi nuốt trôi ý thức.
Đàng khác, nhiều khi ý thức luân lý không cho phép rập khuôn với hoàn cảnh và môi trường chung quanh như vậy.
* Nhãn quan duy vật
Có lẽ khó tìm thấy nơi các nhà tư tưởng Marxist cũng như chính nơi Marx
một chuyên đề về sự dữ, vấn đề kể như không có đối với họ. Đối với họ,
chỉ có vấn đề kinh tế, xã hội, lịch sử. Có thể nói rằng, đối với Marx,
tính bi đát của thân phận con người là tính bi đát thuộc bình diện kinh
tế xã hội. Đó là sự bóc lột con người bởi con người. Chấm dứt được sự
bóc lột đó thì cũng chấm dứt bi kịch cuộc sống con người. Mọi giằng co,
căng thẳng đều thuộc bình diện kinh tế và xã hội chứ không có tính chất
hiện sinh hay siêu hình.
Để hoá giải bi kịch cuộc sống, đối với họ, cần vận dụng sức lao động và thay đổi mối tương quan xã hội.[13]
------------
[1] É. Borne, mục “Mal” trong “L’Encyclopédie universalle”, t. IX, 1985, tr. 536.
[2] C.Montenat, L. Plateaux, P. Roux, “Pour lire la création dans l’évolution”, tr. 87-92, mục “Mal”
[3] Épitète, “Manuel” VIII.
[4] F. Bousquet, “ Le scandal du mal”, Paris, Mame, Coll. “Premìere bibliothèque de connaissances religieuses”, 1987, P.23
[5] Héraclite, “Fragments” số 58: “bệnh tật cho ta biết sức khoẻ là niềm
vui: sự dữ đối với sự thiện, đói khổ đối với no đủ, nhọc nhằn đối với
nghỉ ngơi cũng vậy (Ibid, số 125).
[6] É. Borne, “Le problème du mal”, op. cit. p. 73.
[7] Trong lịch sử tư tưởng nhân loại vẫn luôn có người đi tìm sự xoa dịu
này. Và với một cái nhìn chịu ảnh hưởng sâu đậm của phái khắc kỷ, các
Kitô hữu cũng hay bị cám dỗ đi tìm sự xoa dịu ấy bằng cách cho rằng nhìn
chung, rồi ra sự thiện cũng sẽ thắng. Ta có thể thông cảm với thái độ
này, nhưng đó không phải là giải pháp tốt vì thường đẩy ta tới chỗ đành
lòng cam chịu.
[8] Tuy cho rằng không thể tìm thấy ở thế giới bên kia một giải đáp cho
vấn đề này, Camus vẫn không vì thế mà thiếu lạc quan đối với sự thay đổi
của thế giới. Sự lạc quan ấy bắt nguồn từ niềm xác tín rằng con người
sẽ không ngừng đấu tranh để vũ trụ của họ nên khá hơn, và cũng vì lạc
quan như thế mà năm 1948, khi có dịp trao đổi với các tu sĩ Dòng Đa
Minh, ông đã dám khẳng định: “Tôi bi quan về định mệnh nhân loại, nhưng
tôi lạc quan về con người” (A. Camus, L’incroyant et les chrétiens”,
những góp nhặt từ bài thuyết trình tại tu viện Đa Minh ở Latour Maubourg
năm 1948, được tái xuất bản trong “Actuelles Chroiques” 1944-1948, nxb.
Gallimard, 1950, p.216- 217.
[9] Id. “Le Mythe de Sisyphe”, Gallimard, 1942.
[10] A. Camus, “L’homme révolté”, Gallimard, 1951, p. 374.
[11] Ibid. p. 375-376
[12] “L’incroyant et les chrétiens”, op. cit. p. 213-219.
[13] Xc. Nguyễn Tuân, “Chùa đàn”.
SỰ DỮ, MỘT VẤN ĐỀ NAN GIẢI (Phần I)
1/25/2015 07:58:00 AM |
LTS : Bài viết gồm có 5 phần. Sẽ đăng lần lượt từng phần.
Dẫn nhập &
1. Sự dữ, một vấn nạn lớn.
2. Những nỗ lực hóa giải sự dữ bằng huyền thoại và triết học.
3. Hóa giải sự dữ theo thánh Âu Tinh, thánh I-rê-nê và thánh Thomas.
4. Hóa giải sự dữ dưới lăng kính Kitô giáo.
5. Giải pháp bằng lòng tin và hành động.
Mời độc giả nghe thánh ca "be not afraid" ở cuối bài.
----------------
----------------
Nguyễn Minh Sơn
DẪN NHẬP
Sự dữ xuất hiện khắp nơi, dưới mọi hình thức, xuyên suốt dòng lịch sử. Sự dữ xuất hiện và hoạt động trên tất cả mọi loài thụ tạo. Nhưng đối với con người thì sự dữ trở nên đau khổ và khủng khiếp hơn, bởi vì con người ý thức được về chúng. Con người là sinh vật duy nhất không chỉ đau khổ trong hiện tại, mà còn đau khổ về một quá khứ, những day dứt, dằn vặt và hối tiếc về những cái của một thời đã qua, và thậm chí còn đau khổ về một tương lai trước những nguy cơ đang đe dọa đến mình… Với ý thức, con người mới biết được những gì mình đang chịu, đang đương đầu và đang đụng chạm đến. Con người cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc hay đau đớn bằng giác quan và bằng ý thức. Chính nhờ ý thức giúp cho con người biết được những điều mình đang chịu là hợp lý hay vô lý, có thể chấp nhận hay từ chối.
Cuộc sống con người luôn đối diện trước những vấn nạn về sự dữ, những
đau khổ do bệnh tật, những thảm hại do thiên tai gây ra, những cuộc
chiến tranh khốc liệt giữa con người với con người… và cuối cùng là cái
chết. Không ai không là nạn nhân của sự dữ. Mỗi người bị sự dữ tác hại
một cách khác nhau: chiến tranh, động đất, lũ lụt, bệnh tật, đói khát…
đã và đang xảy ra nhan nhản trên khắp thế giới, và vì nạn nhân của sự
dữ, nên con người không dễ dàng chấp nhận nó. Bản chất của con người là
mong đạt đến sự hoàn thiện, mong được an vui hạnh phúc. Thế nhưng, thực
tế cuộc sống cho thấy, con người ước mơ nhiều nhưng chẳng được bao
nhiêu. Có người tưởng chừng như hạnh phúc đang đến với họ, ước mơ đã
thành sự thật, thì cũng lúc đó sự dữ có mặt cắt đứt đi những niềm hạnh
phúc ấy. Sự dữ gây ra cho con người bao nỗi khổ đau, đau về thể xác đã
đành, đau về tinh thần là điều khốn khổ biết bao. Chính vì thế, thái độ
của con người luôn luôn chống lại sự dữ, chối bỏ không chấp nhận sự hiện
hữu của nó.
Như vậy, thái độ của người Kitô hữu như thế nào khi phải đối diện trước vấn nạn về sự dữ?
Trong Kinh thánh có nói về nguồn gốc của sự dữ là do Adam và Eva đã ăn
trái cấm nên đã phạm tội bất tuân cùng Thiên Chúa. Kinh thánh không
tranh luận về sự dữ nhưng khẳng định rõ ràng về thực tại sự dữ khi dùng
biểu tượng con rắn để mô tả hành động xảo trá gieo rắc bất hoà giữa con
người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Kinh thánh cũng tố cáo
sự bất công dai dẳng và sự giả hình khả ố, đồng thời vẽ lên bức tranh bi
thảm của một đám đông dân chúng lầm lạc khi họ đóng đinh Đức Kitô trên
thập giá. Đức Kitô không bỏ qua thực tại sự dữ, và Người cũng không bao
giờ biện minh cho sự dữ. Như vậy, sự dữ đã có và vẫn tồn tại từ khi con
người phạm tội cùng Thiên Chúa.
Theo một cách hiểu, lịch sử của con người là lịch sử của cuộc chiến giữa
sự lành và sự dữ. Tất cả các tôn giáo lớn đều nhìn nhận rằng có một sự
giằng co trong lòng vũ trụ. Theo Ấn Độ giáo, một cuộc chiến giữa thần
ánh sáng và thần bóng tối: theo Do thái giáo và Kitô giáo, một cuộc
chiến giữa Thiên Chúa và Xa-tan. Mọi người cảm nhận được rằng trong sức
mạnh của sự thiện hướng con người đi lên có sức mạnh của sự dữ kéo con
người đi xuống.
Đứng trước “huyền nhiệm” sự dữ (một kiểu nói ưa dùng của Gabriel
Marcel), vừa phi lý vừa gây khó chịu, ta thường có một phản ứng chính
đáng là cự tuyệt và bất mãn. Chúng ta muốn làm mọi cách để thoát khỏi
nhưng vô hiệu. Huyền nhiệm ấy “bao vây” lấy chúng ta dù muốn dù
không.[1]
Đối với chúng ta là những người tin vào Đức Kitô, mặc dù chúng ta không
giải thích gì hơn, nhưng may mắn thay cho chúng ta, khi chúng ta suy gẫm
Kinh thánh thì có thể thoáng thấy được một vài lý do khả dĩ giải thích
tại sao Thiên Chúa chấp nhận để cho sự dữ xảy đến với những người Ngài
yêu thương, những con người vô tội, bằng cách chính Đức Kitô cũng là nạn
nhân của sự dữ.
PHẦN I : SỰ DỮ, MỘT VẤN NẠN LỚN
Người ta thường lý luận: nếu Thiên Chúa hiện hữu thì không có sự dữ,
nhưng thế giới lại đầy sự dữ, vậy Thiên Chúa không hiện hữu. Đau khổ và
sự dữ là điều lý trí con người không muốn chấp nhận. Thật thế, lý trí
nói với chúng ta rằng Thiên Chúa là Đấng toàn năng, toàn trí, toàn thiện
đã tạo nên vũ trụ, vậy tại sao trong công trình của Ngài lại chứa đựng
sự dữ và đau khổ? Ngài không thể tạo dựng nên một vũ trụ hoàn hảo sao?
Phải chăng đây là một thất bại của Ngài?
Nếu đối với người vô thần, sự dữ và đau khổ là một vấn nạn, thì đối với
người Kitô hữu nó cũng là cớ vấp phạm không kém. Đức tin nói với người
Kitô hữu rằng Thiên Chúa chẳng những là Đấng Tạo Hoá, mà còn là Người
Cha yêu thương. Vậy Thiên Chúa là tình yêu, thì tại sao Ngài lại để cho
con cái Ngài lại phải đau khổ?
Với những câu hỏi đó, người ta đã dựa vào sự dữ để phủ nhận Thượng Đế,
từ một thiểu số ban đầu đến chỗ ngày càng đông, nhất là trong thời hiện
đại. Càng tiến bộ trong việc chế ngự thiên nhiên, con người càng khó
chấp nhận sự dữ cùng với những giới hạn thật khó chịu mà nó áp đặt lên
con người. Thế là đẻ ra một làn sóng phản kháng ngày càng mạnh chống lại
vị Thượng Đế có vẻ bạo dâm, dựa trên một ý tưởng, mới nhìn có vẻ rất
đúng cho rằng nếu Thượng Đế hiện hữu thực sự và nếu Người toàn thiện,
toàn năng như những kẻ tin vẫn nói, thì Người không thể cho phép sự dữ
và đau khổ có mặt được. Đây cũng là cội rễ đẻ ra thái độ vô thần của
nhiều người. Nếu Người có thì tại sao lại để mặc cho những tai họa đó
“đè bẹp cuộc sống chúng ta và làm cho ta phải luôn than thở, nổi
loạn”[2]
Vấn đề xem ra thật là nan giải, bởi lẽ “làm sao chúng ta có thể cùng một
lúc xác nhận ba mệnh đề sau đây mà không gặp mâu thuẫn: Thượng Đế toàn
năng; Thượng Đế toàn thiện; sự dữ vẫn còn. Chỉ có thể hoà hợp hai trong
ba mệnh đề ấy, còn hoà hợp cả ba thì không thể”[3].
Trước hết, chúng ta cần xác định thế nào là sự dữ.
Sự dữ được hiểu như là tất cả những gì nghịch lại sự thiện, và sự thiện
là những gì phù hợp với bản chất của con người. Bởi vì con người là một
hữu thể bao gồm thể chất và tinh thần, nghĩa là tinh thần nhập thể trong
thể chất hay một thân thể được sinh động bởi tinh thần, cho nên sự
thiện đối với con người là tất cả những gì phù hợp thể xác và tinh thần.
Điều thiện đối với thân xác là thiện ích của thân xác: sức khoẻ, khoái
cảm, sự sống; còn điều thiện đối với tinh thần là sức khỏe tâm linh.
Nhưng con người không chỉ là một hữu thể đóng khung trong chính nó, mà
là một hữu thể có tương quan: tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và
với thế giới; còn điều xấu, sự dữ là những gì phá hủy, ngăn cản những
mối tương quan ấy.
1. Sự dữ như một thực tại
Sự dữ có thể là do tự nhiên hay còn gọi là sự dữ hiện sinh và sự dữ do
bởi tự do của con người. Phân biệt như thế, mặc dầu có hạn chế ở một số
trường hợp (như một số căn bệnh, tức là sự dữ hiện sinh- sẽ trở nên
nghiêm trọng hơn do điều kiện sinh sống, do ô nhiễm môi sinh…, nghĩa là
những sự do tự do của con người). “Sự dữ hiện sinh” là thành ngữ dùng để
chỉ sự dữ xảy ra cho con người do chính cuộc sống “tự nhiên” của họ
trong thế giới. Về phương diện này, con người phải gánh chịu bệnh tật,
đau khổ, chết chóc, âu lo.
Vì không thể loại bỏ hoàn toàn những đau khổ và những hạn chế do bởi
điều kiện tự nhiên, con người sẽ tìm cách làm chủ và cố gắng đẩy lùi
chúng càng xa càng tốt. Và họ đã thành công phần nào, nhờ vào những tiến
bộ kỳ diệu đã đạt được trong lãnh vực y khoa chẳng hạn, đồng thời vẫn ý
thức rằng mình sẽ không bao giờ có thể tiêu diệt chúng hoàn toàn được.
Con người không bao giờ có thể thoát được tất cả những hiện tượng tự
nhiên sinh ra sự dữ, đau khổ và chết chóc.
Tuy nhiên, trong thế giới này ta không chỉ gặp những đau khổ và sự dữ tự
nhiên. Chúng ta còn gặp cả những sự dữ gây ra bởi những việc làm tự do,
có ý thức và tự ý của con người, những sự dữ là kết quả trực tiếp của
tự do con người[4]. Từ những trại tập trung, nơi phẩm giá con người bị
hạ thấp, cho đến thời đại văn minh của chúng ta ngày nay, trong đó đồng
tiền đang làm hỏng mọi sự, rồi chiến tranh, đói kém và thất nghiệp, đã
có không biết bao nhiêu là khổ đau, đôi khi vượt ngoài sức tưởng tượng
của ta, nhưng luôn luôn đáng xấu hổ vì tất cả đều do chính con người tạo
ra! Xì-căng-đan là chỗ này: sử dụng tự do một cách đồi bại. Bernanos
nhấn mạnh rằng “Xì-căng-đan của thế giới không phải là đau khổ, mà là tự
do. Thiên Chúa đã dựng nên thụ tạo tự do, đó là Xì-căng-đan lớn nhất
bởi vì mọi Xì-căng-đan khác đều phát xuất từ đó[5].
Trong tiểu thuyết “Anh em nhà Karamazov”, Dostoievski đã nói về con
người được Thượng Đế tạo dựng có tự do và con người chọn lựa tự do của
mình. Đứng trước bức tranh đen tối vẽ ra bao hành vi xấu xa bởi tự do
con người, ta tự hỏi phải chăng thà tạo ra một thế giới nô lệ còn hơn là
tạo dựng ra một thế giới có tự do ngự trị. Trong thế giới nô lệ ấy, con
người sẽ cảm thấy hạnh phúc vì không có tự do. Còn khi tạo nên con
người có tự do, Thượng Đế phải chấp nhận nguy cơ này là con người đã
chẳng quyền làm điều ấy! Dostoievski đã nêu lên vấn đề này. Sau đây là
một đoạn trích trong “truyền thuyết về vị Chánh Thẩm toà điều tra” của
tác phẩm ấy:
“Chuyện xảy ra ở thành phố Sevilla (Tây Ban Nha) vào thời kỳ kinh khủng
nhất của toà điều tra tôn giáo, khi mà để làm sáng danh Đức Chúa Trời,
ngày nào người ta cũng đốt những giàn lửa thiêu…(lúc đó, ngay giữa đám
đông dân chúng, Chúa Giêsu) xuất hiện một cách lặng lẽ, không để ai nhận
thấy, nhưng kỳ lạ thay, mọi người đều nhận ra Chúa. Dân chúng vội vã ùa
đến với Chúa và đi theo Người. Người im lặng đi qua giữa họ, miệng mỉm
cười thương cảm vô hạn.(trước sân nhà thờ chính toà, Chúa đã làm cho một
bé gái sống lại)… Lúc đó đức hồng y Chánh Thẩm toà điều tra đi ngang
qua quảng trường. Ngài nhìn thấy hết và mặt sa sầm. (Ngài cho bắt Chúa
Giêsu)… và dân chúng vốn đã quen thần phục và run sợ tuân lệnh, nên đã
lập tức giãn ra trước bọn vệ binh. Trong bầu khí im phăng phắc như trong
nhà mồ, chúng túm lấy Người, giải đi…
(Đến đêm, vị Chánh Thẩm toà điều tra đến gặp Chúa Giêsu trong tù). Tại
sao ông đến làm phiền chúng tôi?, điều đó chính ông cũng biết. Nhưng
ngày mai tôi sẽ kết án ông và thiêu ông trên giàn lửa như một kẻ lạc
giáo tồi tệ nhất… Ông đã thấy những con người tự do đấy, nhưng chính họ
đã đem tự do của họ đặt dưới chân chúng tôi…(khi ban cho họ tự do) là
ông gạt bỏ con đường duy nhất có thể đem lại hạnh phúc cho con người.
(Ông rao giảng) cho người đời về một thứ tự do mà những người chất phác
và bẩm sinh đần độn không thể hiểu nổi, đâm ra khiếp sợ nó, bởi vì đối
với con người và xã hội loài người, không bao giờ có cái gì khó chịu
đựng hơn tự do! Nhưng rốt cuộc họ sẽ trở nên ngoan ngoãn. Họ sẽ ngạc
nhiên và sẽ coi chúng tôi là thần thánh vì một khi đã lên cầm đầu họ.
Chúng tôi bằng lòng đảm nhận gánh nặng tự do và cai trị họ. Thế đấy, họ
sợ tự do đến mức như vậy. Đối với con người đã được tự do, không có mối
bận tâm nào triền miên hơn, đau khổ hơn là mau mau tìm lấy một đấng để
sùng phụng. Nhưng người ta chỉ muốn sùng phụng một uy quyền hiển nhiên,
không bàn cãi gì nữa, một uy quyền mà tất cả mọi người đều nhất tề sùng
phụng. Một lần nữa tôi nhắc cho ông biết rằng con người không có mối âu
lo khắc khoải nào hơn là tìm cho được một người để mau mau trao lại cái
tự do mà họ đã bất hạnh mang lấy từ lúc ra đời.
“Đáng lẽ chiếm lấy tự do của con người, Chúa lại cứ tăng thêm mãi và làm
cho hữu thể tinh thần này chồng chất thêm những dằn vặt vì sự tự do.
Nhưng chẳng lẽ Chúa không thấy trước rằng con người rốt cuộc sẽ chối
hoặc thậm chí bài bác cả hình ảnh lẫn sự thật của Chúa nếu như họ bị đè
ép dưới sức nặng khủng khiếp của sự tự do lựa chọn này? Như thế Chúa đã
đánh giá con người quá cao, bởi lẽ họ là nô lệ. Con người yếu đuối và
hèn hạ hơn Chúa tưởng. Chúa đòi hỏi ở họ quá nhiều.
Chúng tôi đã sửa chữa lại sự nghiệp ấy của Chúa và người đời vui sướng
vì lại được chăn dắt đàn cừu, cất bỏ được cái tặng phẩm đáng sợ đã đem
đến cho họ biết bao đau khổ này.
Chúng tôi sẽ làm cho mọi người được hạnh phúc. Sẽ không còn nổi loạn và
giết chóc nữa, những cái đó chỉ có trong tự do của Chúa. Chúng tôi sẽ
thuyết phục họ rằng họ chỉ thực sự tự do khi nhường bỏ tự do của mình
cho chúng tôi. Thế nào, chúng tôi có lý hay đã nói dối? Chính họ sẽ thấy
rằng chúng tôi có lý, vì họ sẽ nhớ tự do của Chúa đã đưa họ đến kiếp nô
lệ khủng khiếp và sự hoang mang như thế nào. Sự độc lập, tự do tư
tưởng, khoa học sẽ đẩy họ vào những mê lầm và đặt họ trước những bí
nhiệm, điềm thiêng không giải đáp được, khiến cho trong bọn họ những
người nổi loạn hung dữ sẽ tự tiêu diệt chính bản thân mình, một số khác
cũng nổi loạn nhưng yếu hơn, còn đám dân hèn nhát và tội nghiệp sẽ bò
đến dưới chân chúng tôi mà kêu van: Vâng, các ngài có lý, chỉ có các
ngài nắm được bí nhiệm của Chúa và chúng tôi xin trở lại với các ngài,
hãy cứu vớt chúng tôi khỏi chính bản thân chúng tôi”.[6]
Ngày nay, càng lúc chúng ta càng thấy rõ có những chế độ bất công, có
những cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội bất công. Nhưng phân tích đến
cùng, những cơ cấu ấy do con người làm ra, như thế, nếu chúng ta có bất
công cũng là do sự ích kỷ, kiêu ngạo và tham vọng của con người. Sự dữ
không nằm trong các sự vật hay trong các cơ cấu, mà trong ý muốn xấu xa
của con người. Chính con người làm cho sự vật và cơ cấu ra xấu xa để
phục vụ cho ý muốn ích kỷ và thấp hèn của mình. Quả thật, có những khía
cạnh của sự dữ trong lịch sử nhân loại xem ra vượt quá sự lý giải của
con người. Nhìn xuyên suốt lịch sử nhân loại, chúng ta chỉ thấy toàn mâu
thuẫn. Mọi người ai cũng muốn điều thiện, nhưng sự dữ vẫn thắng thế.
Mọi người ai cũng tuyên bố yêu chuộng hoà bình, nhưng lịch sử nhân loại
được viết bằng chiến tranh hơn là hòa bình. Nhìn vào con người, chúng ta
thấy có mâu thuẫn giữa điều nó “là” và điều nó muốn “trở thành”. Nơi
con người, sự hướng chiều về sự dữ mạnh đến độ dù có ước muốn và khả
năng làm điều thiện đến đâu, nó vẫn thường chọn điều ác. Từ ngàn xưa,
thi sĩ Ovide đã diễn tả cái mâu thuẫn ấy: “Tôi đã thấy và chuẩn bị điều
tốt, nhưng tôi lại làm điều xấu”. Như vậy, sự dữ phát sinh và tồn tại
trong lịch sử nhân loại là do một phần lớn chính con người gây ra. Bất
cứ ai đã được sinh ra và sống trên cõi đời này thì không thể tránh khỏi
sự dữ, vì sự dữ có thật và ảnh hưởng tác hại đến đời sống con người.
2. Bản chất sự dữ
Sự dữ là gì? Đó là điều hết sức khó nói, mặc dù con người đã có kinh
nghiệm về nó. Các triết gia, các nhà luân lý, tâm lý và lãnh vực siêu
hình đều đi tìm hiểu về bản chất của nó, nhưng người ta vẫn không có một
lý thuyết gì chung về sự dữ, mỗi người nhìn và nghiên cứu dưới những
khía cạnh khác nhau.
Trước hết, với Socrate và Platon, sự dữ được trình bày như một hữu thể
giảm thiểu. Nói cách khác, sự dữ được coi như là một thực tại, một hữu
thể, nhưng là một hữu thể khiếm khuyết. Chẳng hạn một người xấu số nào
đó, đáng lẽ anh ta sinh ra phải có đầy đủ các cơ quan, nhưng không, anh
ta lại bị khiếm thị hay bị dị tật nào đó… và ngôn ngữ triết lý gọi lý
thuyết này là lý thuyết khiếm khuyết, và ý niệm ấy đã được đúc kết lại
trong một câu nói thời danh của Socrate: “không ai cố tình làm điều
ác”[7]. Câu nói đó giúp ta hiểu rằng, người ta làm điều ác chỉ vì họ ngu
dốt, không thấu hiểu sự thiện. Sự thiện bao giờ cũng là một sự hoàn bị,
thiết yếu, đẹp đẽ lý tưởng, nó thỏa mãn mọi yêu sách của lý trí, nhờ
đó, khi am hiểu được sự thiện thì lý trí phải làm điều thiện.
Đối với Plotin, sự dữ được trình bày như “thành phần” trong “toàn khối”
theo quan điểm thẩm mỹ. Nghĩa là, cũng như một bức họa, những bóng đen
cần thiết để làm nổi bật những màu sắc sáng sủa; hay trong một bản nhạc,
những giọng trầm bi thương cần thiết để làm nổi bật những giọng cao
hoan hỉ… Vì thế, ông đã viết lại trong bản văn thời danh rằng: “Sự ác
không hiện hữu một cách biệt lập… một cách thiết yếu, nó xuất hiện lên
như bị ràng buộc với những xiềng xích của vẻ đẹp, hay một kẻ bị tù đày
nhưng mang vòng xích vào. Những xiềng xích ấy che đậy nó để thân mình
không thấy sự xấu xa của nó khi nó xuất hiện trước mặt loài người[8]”.
Nói tóm lại, lý thuyết này biện hộ là chính đáng cho thái độ khoan dung
toàn diện của ta đối với cả tình trạng lành mạnh, cả tình trạng bệnh lý,
cả những gì quái gở xấu xa, nghĩa là đối với sự sống dưới đất tất cả
mọi hình thức của nó.
Theo thánh Thomas, một sự đối lập sẽ được nhận biết nhờ ánh sáng. Cũng
vậy, chúng ta nhận biết sự dữ nhờ bản tính của sự thiện. Mọi bản tính
đều ước muốn sự hiện hữu và hoàn hảo riêng của mình, tức là những sự
thiện. Và như vậy, sự dữ không thể là hữu thể hoặc bất kỳ một mô thể hay
bản tính nào. Sự dữ chỉ là khuyết mất hiện hữu, tức là khuyết mất sự
thiện. Nhưng như thế không có nghĩa là sự dữ không có thật. Nó không
phải là tình trạng thiếu sự thiện như thỉnh thoảng người ta vẫn nói. Các
triết gia có thể hài lòng với những lập luận kiểu đó một mình trong bàn
giấy, nhưng họ sẽ nghĩ sao trước một bà mẹ vừa mới chứng kiến con mình
chết? Dẫu sao, sự dữ vẫn là một thực tại kinh khủng ta không thể lạc
quan mà phủ nhận nó.
3. Con người đứng trước sự dữ
Sự dữ xuất hiện khắp nơi, dưới mọi hình thức, xuyên suốt dòng lịch sử. Sự dữ xuất hiện và hoạt động trên tất cả mọi loài thụ tạo. Nhưng đối với con người thì sự dữ trở nên đau khổ và khủng khiếp hơn, bởi vì con người ý thức được về chúng. Con người là sinh vật duy nhất không chỉ đau khổ trong hiện tại, mà còn đau khổ về một quá khứ, những day dứt, dằn vặt và hối tiếc về những cái của một thời đã qua, và thậm chí còn đau khổ về một tương lai trước những nguy cơ đang đe dọa đến mình… Với ý thức, con người mới biết được những gì mình đang chịu, đang đương đầu và đang đụng chạm đến. Con người cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc hay đau đớn bằng giác quan và bằng ý thức. Chính nhờ ý thức giúp cho con người biết được những điều mình đang chịu là hợp lý hay vô lý, có thể chấp nhận hay từ chối.
Hơn nữa, con người không chỉ ý thức mà còn là ước vọng nữa. Ước vọng là
điều cao quý của con người nhưng cũng là nỗi khổ đau của con người.
Chính ước vọng là động lực thúc đẩy con người ra sức xây dựng và phát
triển xã hội một cách tươi đẹp, cũng như ra sức để hoàn thiện bản thân.
Tuy nhiên, ước vọng sẽ trở thành đau khổ một khi con người không đạt
được nó, ước vọng càng lớn thì đau khổ càng nhiều. Cái ước vọng vô biên
của con người là tránh đau khổ khi phải đụng chạm tới nó.
Khi nhìn dưới một nhãn quan nào đó, cái chết như có vẻ rất bình thường
vì nó thuộc quy luật muôn thuở của thế giới sinh vật; cũng vậy, cuộc đời
con người sinh-lão-bệnh-tử là chuyện bình thường. Nhưng thực tế, khi
phải đối diện với thực tại sự chết, con người lại cảm thấy cái chết là
một điều phi lý. Nó ngăn chặn khát vọng nền tảng của hữu thể luôn vươn
tới sự sống. Nó đè bẹp nhu cầu vô tận của con tim. Con người là một hữu
thể chẳng bao giờ thoả mãn, bất chấp giới hạn của mình. “Cái chết là nơi
thâu tóm và là chỗ kết thúc của tất cả sự suy sụp dần dần của chúng ta,
nó là sự dữ”.[9] Cuộc sống con người không thể đồng nhất với các sinh
vật khác được, bởi vì nơi con người còn có ý thức và ước vọng. Một cái
chết đến, nó phá đổ tất cả mọi dự phóng, mọi hoài bão và chương trình
của con người. Có những người trẻ mang đầy những nhiệt huyết bước vào
đời với một tương lai tươi sáng, tưởng chừng như không gì lay đổ, nhưng
bỗng chốc thần chết đến, mọi sự đều tiêu tan, chỉ còn lại một dấu chấm
hết. Thật là phi lý và đau khổ khi con người ý thức về nó.
--------------
[1] Người ta đã nói tới những “vòng tròn ma quái” của tử thần: những
vòng tròn ma quái của nghèo đói, bạo lực, tha hóa về chủng tộc và văn
hóa, huỷ diệt thiên nhiên bằng nạn ô nhiễm và sau hết, vòng tròn ma quái
của sự phi lý khi chúng ta đang vô tình biến thế giới này thành một địa
ngục.(Trích dịch: J. Moltmann, “Le Dieu crucifie”, Cerf-Mame, coll.
“Cogitatio fidei” số 80, 1974, p. 370-374).
[2] Lời tựa của L. Lavelle và R.Le Senne viết cho cuốn “Le sens de la souffrance” của M. Scheler, Paris, Aubier, 1936, p.5
[3] P. Ricoeur, “le mal, un défi à la philosophie et à la théologie”, Genève, Labor et Fides, 1986, P.13-14.
[4] Từ đó đặt ra những vấn đề triết học, đạo đức rất quan trọng, nhất là
vấn đề lỗi phạm, hay đối với các Kitô hữu, đó là vấn đề tội lỗi. Quả
thực, đức tin Kitô giáo cho thấy có sự liên hệ chặt chẽ giữa việc lạm
dụng tự do và cái được gọi là “tội lỗi” hay từ chối đáp trả lại lòng
mong đợi của Thiên Chúa, Đấng đã mời gọi con người chia sẻ sự sống với
Ngài và đã đích thân xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ. Vẫn
còn một câu hỏi căn bản là tại sao nơi con người có tội lỗi, tại sao con
người có ý muốn làm điều xấu?
[5] G. Bernanos, “la liberté, pour quoi faire?”, Paris, Gallimard, coll. “Idées”, 1972, P.224.
[6] Dostoievki, “les Frères Karamazov”, Gallimard 1948, t. V, ch. V, “La légende du grand Inquisiteur”, P. 228-245.
[7] Trịnh Ngọc Sương, Những lý thuyết về sự ác, tr 3.
[8] Sđd, tr 5.
[9] Teillard de Chardin.